Hiển thị các bài đăng có nhãn tre-so-sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tre-so-sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Lý Do Không Nên Hôn Môi Trẻ

[me va be]Nụ hôn của người lớn có thể khiến trẻ lây bệnh, thậm chí là tử vong. Trên thế giới đã có không ít trường hợp như vậy.



Khi hôn môi, nước bọt của một người có thể truyền sang người khác từ đó có thể truyền bệnh. Hệ miễn dịch của trẻ còn non nớt nên trẻ dễ bị lây bệnh.
Dưới đây là những nguy cơ có thể xảy ra khi hôn môi trẻ
EBV là loại vi-rút mụn giộp có thể truyền sang người khác qua hôn. Vấn đề là loại vi-rút này sẽ ở lại trong cơ thể người suốt đời.

Sau khi được hôn, nếu trẻ có các triệu chứng như sốt, đau họng, mệt và yếu thì nó có thể là do bệnh lây qua hôn. Bạn cần đưa trẻ đi khám bác sĩ.
Ngay cả cúm cũng có thể lây từ người lớn sang trẻ em qua một nụ hôn nhẹ. Các triệu chứng gồm loét họng, sốt, đau đầu và đau cơ.
Viêm màng não do vi-rút là bệnh truyền nhiễm và có thể ảnh hưởng tới tất cả các bộ phận của cơ thể. Sốt, buồn nôn, ớn lạnh, lú lẫn, đau cổ, đau đầu là một số triệu chứng nhiễm bệnh.
Vi-rút cytomegalo viết tắt là CMV cũng là bệnh có thể lây qua nước bọt và nó tồn tại trong cơ thể nhiều năm.

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Bệnh Còi Xương Ở Trẻ Em

[me va be]Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ánh sáng mặt trời, do kiêng khem quá mức và chế độ ăn nghèo canxi – phospho; những trẻ không được bú mẹ dễ bị còi xương hơn trẻ bú mẹ.


Trẻ em bị còi xương là do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu và chuyển hóa canxi và phospho.
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ánh sáng mặt trời, do kiêng khem quá mức và chế độ ăn nghèo canxi – phospho; những trẻ không được bú mẹ dễ bị còi xương hơn trẻ bú mẹ.

Những dấu hiệu chứng tỏ trẻ bị còi xương– Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ.
– Xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn.
– Các biểu hiện ở xương: thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê.
– Các trường hợp còi xương nặng có di chứng: chuỗi hạt sườn, dô ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.
– Răng mọc chậm, trương lực cơ nhẽo, táo bón.
– Chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, biết bò, đi, đứng…
– Trong trường hợp còi xương cấp tính: trẻ có thể bị co giật do hạ can xi máu.


Những trẻ dễ có nguy cơ bị còi xương– Trẻ sinh non, đẻ sinh đôi.
– Trẻ nuôi bằng sữa bò.
– Trẻ quá bụ bẫm.
– Trẻ sinh vào mùa đông.

Phân biệt còi xương và bệnh còi cọcTrẻ còi cọc: trẻ bị suy dinh dưỡng, có số đo về cân nặng và chiều cao đều thấp hơn trẻ bình thường, cũng có thể kèm còi xương hoặc không.
Bệnh còi xương: có thể gặp ở cả những đứa trẻ rất bụ bẫm, do nhu cầu về canxi, phospho cao hơn trẻ bình thường.

Làm gì khi trẻ bị còi xương?– Cho trẻ tắm nắng hàng ngày: để chân, tay, lưng, bụng trẻ lộ ra ngoài từ 10 -15 phút lúc buổi sáng (trước 9 giờ). Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa vật lý liệu pháp tại các bệnh viện. Dưới da có sẵn các tiền vitamin D là 7 dehydrocholesterol, dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho, ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng.
– Cho trẻ uống vitamin D 4000 UI/ngày trong 4 – 8 tuần, trong trường hợp trẻ bị viêm phổi, tiêu chảy cần tăng liều 5.000 – 10.000 UI/ngày trong 1 tháng, hoặc cho trẻ tiêm vitamin D 200.000 UI/uống, 3 tháng tiêm nhắc lại một lần trong năm đầu tiên.
– Cho trẻ uống thêm các chế phẩm có canxi như: canxi B1 – B2 – B6: 1 – 2 ống/ngày, trẻ lớn có thể ăn cốm canxi 1 – 2 thìa cà phê/ngày.
– Cho trẻ bú mẹ; ăn bổ sung các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi: sữa, cua, tôm, cá trong các bữa ăn hàng ngày (cần xóa bỏ quan niệm cho trẻ ăn xương ống, xương chân gà sẽ chống được còi xương); cho dầu mỡ vào bữa ăn hàng ngày của trẻ: vì vitamin D là loại tan trong dầu, nếu chế độ ăn thiếu dầu mỡ thì dù có được uống vitamin D trẻ cũng không hấp thu được nên vẫn bị còi xương.

Phòng bệnh còi xương cho trẻ– Khi có thai các bà mẹ phải làm việc nghỉ ngơi hợp lý để tránh bị đẻ non, có thể uống vitamin D khi thai được 7 tháng: 600.000UI/3 tuần, mỗi tuần 200.000UI.
– Sau khi sinh cả mẹ và con không nên ở trong phòng tối và kín, phòng ở thoáng mát và đầy đủ ánh sáng.
– Sau khi sinh 2 tuần cho trẻ ra tắm nắng 15 – 20 phút/ngày vào buổi sáng (trước 9 giờ).
– Cho trẻ uống vitamin D 400UI/ ngày trong suốt năm đầu tiên nhất là về mùa đông.
– Khi trẻ ăn bổ sung: cho trẻ ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi như: sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh và dầu mỡ

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Vén màn bí ẩn lý do trẻ sơ sinh đang ngoan cứ thấy mẹ là quấy

me va be Rất nhiều mẹ phải thừa nhận rằng, con sơ sinh đang ngoan ngoãn nhưng cứ nhìn thấy mẹ thì lại quấy khóc buộc mẹ phải yêu thương mới chịu.


Như các mẹ đã biết, tiếng khóc của trẻ sơ sinh chính là dấu hiệu rõ ràng nhất mà con muốn nói với mẹ rằng con đang không hài lòng về một việc gì đó. Và đối với một số bé quấn mẹ, mẹ sẽ là người duy nhất cho bé cảm giác an toàn và tin tưởng để thể hiện những điều muốn nói.

Trong 12 tháng đầu đời bé đang dần phát triển nhận thức với những sự việc xảy ra xung quanh. Kỹ năng này thường diễn ra tại một thời điểm bé có thể bắt đầu có cảm giác tìm kiếm đồ chơi hay người thân quen trong tầm mắt của bé. Khả năng nhận thức này được biểu hiện bằng những hành động như buồn bã, đau khổ thậm chí là căng thẳng khi nhìn thấy mẹ.




Chính vì thế, nếu như bạn thấy bé có những biểu hiện quấy khóc hay cảm xúc khác khi nhìn thấy mẹ thì đó là một điều may mắn vì lúc đó con đang phát triển nhận thức theo cách bình thường. Một lời khuyên chân thành là khi con sơ sinh đang ngoan nhưng lại quấy khóc khi nhìn thấy mẹ thì mẹ đừng “lơ” con, hãy đến bên ôm ấp, vỗ về để biết con đang gặp vấn đề gì.

Ngoài ra, thật khó để biết lý do chính xác bé khóc nhưng điều đó không có nghĩa lúc nào mẹ cũng là nguyên nhân đầu tiên dẫn tới việc bé quấy khóc. Việc này cũng không kéo dài quá nếu như mẹ tìm ra được nguyên nhân và xử lý.

Việc trẻ đang ngoan bỗng trở nên quấy khóc khi nhìn thấy mẹ cũng có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

Bé đói

Đây có lẽ là nguyên nhân đầu tiên mà tất cả mọi bà mẹ đều nghĩ đến khi con khóc. Khi thấy bé có những biểu hiện đưa tay lên miệng, miệng tóp tép hay quay đầu về phía tay của mẹ thì đó là do con đang cần được mẹ cho bú.

Cần thay tã

Đối với một vài trẻ sơ sinh sẽ rất nhạy cảm với một chiếc tã đã bị bẩn và quấy khóc khi nhìn thấy mẹ chính là việc bình thường bởi bé dường như chỉ có thể quen sự săn sóc từ mẹ.

Bé mệt

Bé rất khó ngủ khi cảm thấy trong người mệt mỏi. Lúc đó bé cần sự giúp đỡ từ mẹ để nhanh chóng đi vào giấc ngủ.

Bé cần mẹ ôm

Bé quấy đòi mẹ bế đơn giản chỉ là bởi bé cần được mẹ ôm ấp và an ủi. Hãy bế bé lên, đung đưa hoặc hát cho bé nghe.

Bé cảm thấy không khỏe

Hãy theo dõi để biết được những thay đổi của bé. Nếu bé cảm thấy không khỏe trong người sẽ khóc nhiều hơn bình thường. Và không ai hiểu được cảm giác này của bé ngoài mẹ. Chính vì thế bé mong nhận được “sự đồng cảm” từ mẹ.

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Có nên dùng váng sữa thay cho bú mẹ?

me va be Trước đây, váng sữa được chế biến bằng cách vớt phần trên cùng của sữa và cho làm lạnh. Ngày nay, nhà sản xuất sử dụng máy ly tâm để tách phần trên cùng của sữa, đó chính là váng sữa. Tùy thuộc vào cách chế biến sẽ có nhiều loại váng sữa khác nhau.



Váng sữa không thể thay thế sữa và nhất là sữa mẹ vì nó không chứa đủ các chất dinh dưỡng như trong sữa mẹ, đặc biệt là hàm lượng đạm trong váng sữa thấp.

Váng sữa là gì ?

Trước đây, váng sữa được chế biến bằng cách vớt phần trên cùng của sữa và cho làm lạnh. Ngày nay, nhà sản xuất sử dụng máy ly tâm để tách phần trên cùng của sữa, đó chính là váng sữa. Tùy thuộc vào cách chế biến sẽ có nhiều loại váng sữa khác nhau. Ngoài ra, còn có váng sữa nhân tạo được chế biến từ các loại dầu thực vật (dầu dừa, dầu cọ, …), bổ sung thêm casein (đạm sữa bò) và đường lactose (loại đường có trong sữa bò).




Quan sát nhãn ghi trên hộp váng sữa, chúng ta sẽ thấy thành phần chủ yếu của váng sữa là chất béo. Lượng chất béo trong 1 hũ váng sữa cao gấp đôi so với chất béo có trong 1 ly sữa thông thường của trẻ. Do đó, đây là nguồn cung cấp năng lượng rất cao. Tuy nhiên, chất đạm cùng vitamin và khoáng chất có trong váng sữa rất ít. Vì vậy, các bậc cha mẹ không nên dùng váng sữa để thay thế sữa cho trẻ.

Những trẻ nên dùng váng sữa

Váng sữa có thành phần chất béo cao, cung cấp nhiều năng lượng nên tốt cho những trẻ đang cần nhiều năng lượng: trẻ từ trên một tuổi bị thiếu cân, suy dinh dưỡng, trẻ mới ốm dậy. Với những trẻ này, các bà mẹ nên dùng váng sữa làm bữa ăn phụ cho trẻ.

Lượng váng sữa có thể cho trẻ ăn trong ngày phụ thuộc vào tuổi, cân nặng và loại váng sữa được mua. Trung bình, trẻ 6 - 12 tháng tuổi có thể ăn 1 hộp váng sữa/ngày, trẻ trên 1 tuổi: có thể ăn 1 - 2 hộp/ngày, tùy vào mức độ dung nạp của trẻ. Không nên cho trẻ ăn quá nhiều có thể gây đầy bụng, tiêu chảy do hàm lượng chất béo quá cao.

Những trẻ không nên dùng váng sữa

- Trẻ dưới 6 tháng tuổi.

- Trẻ bị thừa cân - béo phì.

- Trẻ đang bị tiêu chảy.

- Trẻ dị ứng với sữa bò.

Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cần cho trẻ dưới 6 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn. Vì vậy, chỉ nên cho trẻ ăn váng sữa sau 6 tháng tuổi nhằm bổ sung thêm năng lượng giúp trẻ tăng cân tốt hơn.

Nếu dùng váng sữa thay cho sữa mẹ trẻ sẽ bị thiếu chất đạm, dễ dẫn đến suy dinh dưỡng, thiếu máu do thiếu các vi chất dinh dưỡng.

Những điều cần lưu ý

Váng sữa rất dễ bị hỏng nên cần được bảo quản trong tủ lạnh, nơi có nhiệt độ tương đối ổn định. Không nên để váng sữa ở bên cánh cửa tủ lạnh vì khi mở cửa tủ lạnh thường xuyên sẽ không giữ được nhiệt độ ổn định.

Sau khi mua, bạn nên sử dụng càng sớm càng tốt.

Chỉ nên mua váng sữa ở những đại lý có uy tín, có đủ điều kiện bảo quản tốt. Khi mua cần chú ý hạn sử dụng, thành phần ghi trên hộ

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Bé mút ngón tay có gây hại?

suc khoe  Rất nhiều bé có thói quen luôn mút ngón tay ở mọi nơi, mọi lúc, nhiều bà mẹ cho rằng điều đó là tự nhiên và rất bình thường.



Vậy, bé mút tay có lợi hay hại, chúng ta có nên cho trẻ mút ngón tay không, loại bỏ thói quen này như thế nào?

Vì sao bé mút tay?

Trong giai đoạn sơ sinh, mút tay là một trong những biểu hiện của việc bé đói và có nhu cầu được bú sữa. Điều đó làm bé thấy dễ chịu và có cảm giác bình yên. Khi lớn hơn thói quen mút tay trong mọi tình huống như: mệt mỏi, sợ hãi, buồn chán, buồn ngủ, hay lo lắng, căng thẳng… Lắm lúc trẻ phải mút tay để đi vào giấc ngủ và mỗi khi trở mình lúc nửa đêm. Theo thống kê chưa đầy đủ 90% số trẻ sơ sinh khi đói sẽ mút tay, và dần dần sẽ hình thành thói quen này ngay cả khi bé không đói thậm chí đã thôi bú sữa.


Mút tay có gây hại cho bé?


Theo các nghiên cứu cho thấy đa số trẻ có thể an toàn khi mút ngón tay của chúng. Thông thường, các trẻ chỉ ngậm mút ngón tay một cách nhẹ nhàng trong khoảng thời gian ngắn nên không gây tổn thương đáng kể trên cơ thể. Ngậm mút tay chưa rửa sạch sẽ là nguồn căn cho trẻ bị các bệnh lây truyền qua đường miệng như bệnh tay chân miệng và các bệnh đường tiêu hoá ...

Trẻ ngậm ngón tay quá sâu khiến trẻ dễ bị nôn trớ, nhất là sau ăn uống. Ở những trẻ có động tác mút mạnh liên tục, thậm chí nhai hoặc dùng lưỡi đẩy có thể gây ra một số tổn thương ở da ngón tay, răng và hàm. Da ngón tay bị nứt đi nứt lại, lở loét, sẽ tạo điều kiện cho vi trùng bên ngoài xâm nhập vào dưới da sẽ gây viêm da mủ. Mút tay nhiều, lâu ngày, còn gây biến dạng xương ngón tay, tạo nên hình dạng ngón tay bất thường. Thậm chí biến dạng răng và hàm; miệng trẻ trở nên hô (do răng và hàm bị đẩy ra ngoài) hay móm (do một hàm bị đưa vào trong); lệch khớp cắn; rối loạn phát âm. Sau này cần phải đến nha khoa để điều trị. Về tâm lý, mút ngón tay thường được xem là biểu hiện của xấu hổ, thiếu tự tin và dễ là cái cớ khiến bạn bè trêu ghẹo, gây mặc cảm cho trẻ khi đến trường.



Làm sao để trẻ từ bỏ thói quen xấu?

Với trẻ còn bú nên cho bú mẹ đầy đủ. Nếu trẻ thỉnh thoảng mới mút tay, bố mẹ chỉ cần làm phân tâm trẻ, lôi cuốn sự chú ý vào những trò chơi khác, giúp trẻ dễ chịu vào những thời điểm sắp mút tay. Chịu khó tìm cách động viên, khích lệ trẻ những lúc không mút tay cũng mang lại hiệu quả giảm dần rồi tự hết. Bên cạnh đó, có thể sử dụng một số biện pháp như băng kín hay mang găng che tay trẻ, … nhằm làm giảm hứng thú mút tay cũng có hiệu quả nhất định.

Với trẻ lớn, cần được giải thích lồng ghép trong tác hại của những thói quen kém vệ sinh, nhắc nhở trẻ thường xuyên rửa tay sạch, cắt móng tay, vệ sinh da để tránh lây bệnh.

Nếu những cố gắng trên của bạn không giúp đuợc trẻ, hãy đưa trẻ đến khám tại các khoa nhi chuyên về tâm lý trẻ em.

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Những điều cần biết về mụn sữa

[suc khoe]Làn da bé sơ sinh sẽ trải qua nhiều thay đổi theo tuổi của bé. Một trong những thay đổi này có thể là sự xuất hiện của mụn sữa (mụn kê). Mụn sữa là mụn nhỏ thường phát triển trên mũi, cằm, trán hoặc má của trẻ sơ sinh.



Mặc dù mụn sữa có thể gây lo lắng cho những người mới làm cha mẹ, nhưng chúng là bình thường và không đáng ngại.

Mụn sữa thường thấy nhất ở trẻ sơ sinh, có tới khoảng 50% trẻ sơ sinh có mụn sữa. Tuy nhiên, bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi.

Dưới đây là một số điểm chính về mụn sữa:

Mụn sữa có xu hướng biến mất trong vòng 1 tháng kể từ khi xuất hiện trên da của bé


Mụn sữa có thể xuất hiện ở một số người trưởng thành sau khi bị tổn thương hoặc dùng một số thuốc

Ở nhóm tuổi lớn hơn, mụn sữa có thể xuất hiện tương tự với các bệnh da khác.

Mụn sữa là kết quả của một loại protein được gọi là keratin bị giữ lại trên da. Chúng là những nốt nhỏ màu trắng hoặc màu vàng ngọc trai trên bề mặt da.

Trẻ sơ sinh có thể bị tình trạng này do sự phát triển tuyến bã và thiếu sự phát tán da bình thường. Tình trạng này sẽ biến mất trong vòng một tháng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể kéo dài cho đến khi trẻ lên 3 tháng tuổi.

Có hai loại mụn sữa:

Mụn sữa nguyên phát: xảy ra ở những người có làn da bình thường và khỏe mạnh

Mụn sữa thứ phát: xảy ra ở những người bị một bệnh da khác



Mụn sữa không chỉ ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Các dạng mụn sữa mà có thể ảnh hưởng đến người lớn bao gồm:

Mụn sữa nguyên phát: Dạng này có thể ảnh hưởng đến cả người lớn và trẻ em. Mụn sữa nguyên phát thường xuất hiện trên các vùng của cơ thể như mắt, má, trán, và bộ phận sinh dục. Dạng này có thể tồn tại từ vài tuần đến vài tháng.

Mụn sữa vị thành niên: Xuất hiện lúc sinh hoặc sau đó, dạng mụn sữa này có liên quan chủ yếu nhất với nhiều tình trạng bệnh và di truyền. Các bệnh liên quan tới mụn sữa vị thành niên gồm hội chứng bớt tế bào đáy và hội chứng Gardner.

Mụn sữa mảng bám: Dạng mụn sữa này chủ yếu ảnh hưởng tới phụ nữ trung niên, mặc dù nó cũng có thể xuất hiện ở trẻ em và đối tượng người lớn khác. Mụn sữa mảng bám thường xuất hiện trên mí mắt, sau tai và các khu vực trên mặt như má và cằm. Mụn sữa mảng bám cũng có thể liên quan tới các tình trạng bệnh khác như lupus.

Mụn sữa từng đám: Dạng mụn này thường thấy nhất trên mặt, cánh tay và phần thân trên. Mụn sữa từng đám có thể gây ra triệu chứng ngứa.

Mụn sữa chấn thương: Dạng mụn sữa này có thể xuất hiện sau một chấn thương như bỏng hoặc phát ban. Mụn sữa xuất hiện trong quá trình liền da.

Mụn sữa do thuốc: Dạng mụn sữa này có thể xuất hiện ở một số người sau khi sử dụng những loại thuốc nhất định trên da. Những thuốc này bao gồm kem cortiosteroid, hydroquinone và 5-fluorouracil.

Các yếu tố nguy cơ và biến chứng

Mụn sữa nguyên phát thường xuất hiện ở khoảng một nửa số trẻ sơ sinh. Ở phần lớn các trường hợp tình trạng này không đáng lo ngại.

Phụ huynh nên đưa trẻ đi khám nếu các triệu chứng nghiêm trọng khiến họ lo lắng hoặc nếu muốn xác nhận tình trạng đó là bình thường.

Các triệu chứng của mụn sữa

Mụn sữa thường có kích thước khoảng 1-2 mm. Chúng đôi khi cũng có thể xuất hiện ở thân trên, chân tay, dương vật, và màng nhầy. Đôi khi, chúng có trong miệng một số trẻ sơ sinh và được gọi là hạt trai Epstein. Trong một số trường hợp, mụn sữa có thể xuất hiện tương tự với một số bệnh da khác bao gồm các nốt ruồi, bệnh ung thư cũng như các bệnh dưới đây:

Nang: các nốt đầy dịch

Mụn trứng cá: sẩn màu da thấy trong trứng cá

U vàng mí mắt: tổn thương do tích tụ mỡ trong tế bào miễn dịch của cơ thể, đôi khi có liên quan tới cholesterol cao.

U tuyến mồ hôi: Khối u tuyến mồ hôi lành tính.

Dày sừng bã đậu: Mụn cơm thường liên quan tới lão hóa.

Chẩn đoán và điều trị

Bác sĩ có thể chẩn đoán mụn sữa dựa trên khám thực thể và không cần phải thực hiện xét nghiệm.

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

Vì sao không nên cho trẻ dưới 1 tuổi ăn muối, đường, mật ong?

me va beTrẻ dưới 1 tuổi vẫn đang trong quá trình hình thành đầy đủ và hoàn thiện dần các chức năng của từng bộ phận trên cơ thể, do đó bố mẹ nên tránh cho trẻ dùng mật ong hoặc nêm muối, đường vào món ăn dặm của trẻ.




Muối

Với trẻ em, chức năng thận còn non nớt, vì vậy không nên cho muối vào thức ăn của trẻ trước khi trẻ 1 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi nên ăn nhạt để thận của bé không phải “làm việc” quá tải. Nêm nhiều muối khi nấu bột, cháo sẽ tập cho bé thói quen ăn nhiều muối khi bé lớn. Thói quen này dẫn đến khả năng bé sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp, tim mạch trong tương lai.

Ở tuổi ăn dặm dưới 01 tuổi, các thức ăn hợp với lứa tuổi này đã có chứa một lượng muối như bột ngũ cốc, hoa quả, nước hoa quả, thịt, thịt gia cầm, cá, trứng, rau. Do vậy, không cho muối vào thức ăn của trẻ.

Lượng muối phù hợp với trẻ: Trẻ dưới 6 tháng cần ít hơn 1g muối/ngày (lượng muối này có trong sữa mẹ hoặc sữa bột). Trẻ từ 6 tháng tuổi đến 1 tuổi, nhu cầu muối khoảng 1g. Trẻ trên 1 tuổi cần khoảng 2g. Lượng nước mắm dùng cho bé chỉ nên khoảng 1/3 thìa cà phê rồi tăng dần. Nên nêm nhạt vì vị giác của bé còn rất nhạy. Nêm vừa miệng người lớn là quá mặn đối với trẻ.




Đường

Tốt nhất các mẹ không nên cho trẻ dưới 1 tuổi dùng các loại bánh ngọt, bích quy, kẹo, kem,… vì trong những loại thực phẩm này thường chứa nhiều chất ngọt gây sâu răng khi răng trẻ vừa mới nhú mọc. Ngoài ra, cho trẻ ăn đường sẽ gây cho trẻ cảm giác ngang dạ, chán ăn, không thèm ăn khi vào bữa chính. Chỉ nên thêm đường vào thức ăn của trẻ khi thực sự cần thiết. Bởi vì đường không phải là thực phẩm có nhiều chất bổ dưỡng, chúng cung cấp năng lượng nhưng thiếu đi vitamin, khoáng chất và chất xơ.

Mật ong

Mật ong không chỉ là một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe mà còn được dùng để chữa nhiều loại bệnh. Mật ong cũng được ví như một loại kháng sinh. Tuy nhiên, với trẻ dưới 1 tuổi thì mật ong lại không phát huy được những tác dụng tuyệt vời ấy. Bởi vì, trong mật ong có chứa lượng đường rất lớn và chứa bào tử của Clostridium botulinum có thể gây ngộ độc, táo bón, hôn mê ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, không nên cho trẻ dưới 1 tuổi sử dụng mật ong để đảm bảo an toàn cho sức khỏe của trẻ. Bé bị dị ứng hoặc dị ứng phát triển trong tương lai. Với trẻ trên 6 tháng tuổi chỉ cho sử dụng mật ong khi có chỉ định của bác sĩ Đông y.

Hải sản có vỏ

Các loại hải sản có vỏ như tôm, cua, sò, ốc… là thực phẩm rất dễ gây dị ứng, vì chỉ nên cho bé ăn sau 1 tuổi. Trước khi cho bé ăn, các mẹ nên hỏi ý kiến bác sĩ cũng như tìm hiểu xem trong gia đình có ai bị dị ứng với hải sản không.

Sữa bò

Mặc dù nhiều loại sữa công thức có nguồn gốc từ sữa bò nhưng không nên dùng sữa bò là đồ uống cho bé dưới 1 tuổi. Không giống sữa công thức và sữa mẹ, sữa bò quá ít kalo và vitamin nên không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của bé. Ngoài ra, trẻ dưới 1 tuổi không thể tiêu hóa được các enzyme và protein có trong sữa bò. Không chỉ có vậy, các chất trong sữa bò có thể gây hại đến thận của trẻ.

Mẹ sinh con đầu bị bóp méo, mặt mũi thâm tím vì ăn uống kiểu này khi mang thai

[me va be]Những thói quen ăn uống không khoa học đã khiến bà mẹ Trung Quốc phải chịu hậu quả nặng nề khi sinh ra đứa con với đầu bị bóp méo, da thâm tím.





Theo Sohu, bà mẹ 35 tuổi người Trung Quốc có tên Zeng đã phải chịu hậu quả nặng nề mà chính chị cũng không ngờ tới cho đến khi tận mắt nhìn thấy khuôn mặt con khi chào đời với nhiều vết bầm tím.
Bà mẹ này có sở thích ăn đồ ngọt và những thực phẩm giàu tinh bột trong thời gian mang bầu. Kết quả là chị đã tăng tới 16kg trong 9 tháng mang bầu đứa con thứ 3. Nhưng điều đáng nói là việc ăn uống quá nhiều trong thai kỳ đã khiến em bé của chị phát triển nhanh và to quá mức quy định. Khi chào đời, em bé nặng tới gần 4,6kg khiến cho quá trình sinh nở vô cùng khó khăn.

Sau 14 giờ vật vã với cơn đau đẻ, chị đã hạ sinh con thành công tuy nhiên vì em bé quá lớn nên trong quá trình đi ra từ tử cung mẹ rất khó khăn, bị mắc kẹt trong xương chậu, gây ra nhiều vết bầm tím trên da và đầu bị bóp méo.




Theo giám đốc bệnh viện nơi người mẹ 35 tuổi này sinh con: “Em bé chào đời với cân nặng gần 4,6kg là quá béo và vượt xa ngưỡng chuẩn của trẻ sơ sinh khi chào đời.”. Ông cũng cảnh báo ngày nay số sản phụ sinh con với cân nặng vượt chuẩn ngày một tăng do bồi dưỡng, ăn uống quá nhiều trong thai kỳ. Việc sinh ra những em bé có cân nặng vượt chuẩn có thể sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ trong quá trình chuyển dạ như sinh nở khó, suy thai, băng huyết sau sinh… Vì vậy mẹ bầu phải rất cẩn thận trong chế độ ăn uống.
Theo các chuyên gia, trọng lượng trung bình của một em bé sơ sinh khi chào đời là khoảng 3000-3200 gram, những trẻ trên 4kg được coi là em bé béo phì. Nguyên nhân của vấn đề là do người mẹ ăn uống quá nhiều trong thai kỳ, đặc biệt là những người mẹ có thói quen ăn nhiều tinh bột và đồ ngọt như bánh kẹo, đồ ăn nhanh nhiều dầu mỡ… Không chỉ gây ra những rủi ro khi sinh nở, bà mẹ tăng cân quá nhiều trong thai kỳ còn có thể bị tiền sản giật, cao huyết áp và tiểu đường thai kỳ.


Giám đốc bệnh viện nơi sản phụ 35 tuổi sinh con cũng cho hay, với người trưởng thành bình thường cần nạp vào cơ thể 1800-2000 calo mỗi ngày thì bà bầu chỉ cần bổ sung thêm khoảng 300 calo (tương đương với một ly sữa không béo, một lát bánh mì và một quả táo). Ngoài ra, mẹ bầu cũng cần lưu ý ăn uống cân bằng dinh dưỡng kết hợp với việc tập luyện thể thao đều đặn để ngăn ngừa nguy cơ thai nhi phát triển quá lớn trong bụng mẹ.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

Cho trẻ bú đêm và những điều mẹ phải biết để không hại bé

[me va be]Cho trẻ bú đêm và những điều mẹ phải biết để không hại bé - các bạn nhớ tìm hiểu kỹ ngay hôm nay!






Khi nào trẻ không cần bú đêm?

Bé từ 6 tháng tuổi trở đi không cần bú đêm nữa vì lúc này, bé đã bước vào độ tuổi ăn dặm. Tuy nhiên, mẹ lưu ý, không cần cho bé ăn quá no vào ban đêm vì có thể làm bé bị đầy bụng, khó tiêu và khóc, tỉnh dậy lúc nửa đêm hoặc khiến bé kén ăn vào ban ngày, hấp thụ kém. Ngoài ra, mẹ nên cho bé ăn thực phẩm loãng, dễ tiêu hóa để bé có giấc ngủ sâu và ngon hơn.

Cũng theo các bác sĩ, trẻ từ 6 tháng trở đi có thể ngủ liền 11 tiếng mà không cần tỉnh dậy để ăn, vì vậy, mẹ nên tăng cường cho bé chơi vào ban ngày để đêm bé ngủ lâu hơn.

Bé thức giấc giữa đêm vì đói

Sai. Thực tế, những cơn đau bụng (thường vào 3 tháng đầu sau sinh) hoặc khó chịu vì tã ướt có thể đánh thức bé. Răng nhú cũng có thể làm giấc ngủ của bé không yên. Đôi khi trẻ thức dậy vì trong phòng quá nóng.

Pha sữa mới cho mỗi lần bú

Đúng. Nếu bé không uống hết sữa trong bình bạn đừng sử dụng chỗ sữa thừa vào lần bú sau. Vấn đề không phải vì sữa đã mất giá trị dinh dưỡng mà là những giọt sữa còn đọng lại trên núm vú sẽ là môi trường sinh sản của các vi khuẩn nguy hiểm. Phải rửa và thanh trùng bình sữa ngay sau mỗi khi dùng.

Bú đêm rất cần thiết cho trẻ dưới 6 tháng tuổi

Điều này hoàn toàn đúng. Dưới 6 tháng tuổi, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ vì vừa giàu dưỡng chất lại dễ tiêu hóa. Đó cũng là lý do trẻ bú rất nhiều lần trong ngày và cả ban đêm.

Nếu con bạn dưới 6 tháng tuổi, đừng ngại cho trẻ bú đêm. Tuy nhiên, mẹ cũng nên biết, trong vài tháng đầu đời nhu cầu bú đêm cao, nhưng từ tháng thứ 3 trở đi, mẹ có thể “cắt” một vài cữ bú đêm. Ví dụ, thay vì cho bé bú nhiều lần vào ban đêm, mẹ có thể rèn cho bé bú từ 1 - 2 lần để không ảnh hưởng tới giấc ngủ của cả mẹ và bé.

Bé ngủ ngon hơn khi bú đêm?

Điều này hoàn toàn đúng với các bé bú bằng sữa mẹ. Trong sữa mẹ có chứa chất trytophan, một chất giúp điều chỉnh tâm trạng và chu trình của giấc ngủ và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển chức năng não bộ. Nhờ vậy, khi bú vào ban đêm bé vẫn phát triển não bộ và ngủ ngon hơn.

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2016

Sốt ở trẻ em và một số nguyên nhân thường gặp

[me va be] Sốt là triệu chứng của nhiều bệnh, là một phản ứng của cơ thể con người xảy ra do phản ứng miễn dịch tự nhiên của cơ thể khi bị bệnh. sốt giúp chúng ta xác định được cơ thể đang mắc bệnh.



Thân nhiệt cơ thể ở mỗi người, từ trẻ em đến người lớn đều dao động trong giới hạn từ 36,5 - 37,50C, không phụ thuộc vào nhiệt độ bên ngoài và tùy theo các cơ quan, tổ chức của cơ thể mà có nhiệt độ khác nhau như: ở gan bàn tay - bàn chân thì có nhiệt độ dao động 31 - 32,50C, ở nách từ 36,2 - 370C, nhiệt độ cao nhất trong cơ thể là ở gan nhiệt độ lên đến 39,50C, nhiệt độ tương đối ổn định ở miệng từ 37,2 - 37,50C và hậu môn 36,6 - 37,20C. Được gọi là sốt khi thân nhiệt ở nách, ở miệng, hậu môn trên mức giới hạn 37,5 - 380C. Các nhà y học phân chia:

Sốt nhẹ khi thân nhiệt tăng từ 38 - 390C.

Sốt vừa khi thân nhiệt từ 39 - 400C.

Sốt cao khi thân nhiệt trên 410C.

Sốt còn có một ý nghĩa quan trọng khác là nhằm đánh giá tình trạng đáp ứng tốt với điều trị, đáp ứng tốt thì sốt sẽ giảm. Với trẻ em, do trung khu điều hòa thân nhiệt ở não có cấu tạo chưa hoàn chỉnh ở những năm đầu đời nên thân nhiệt dễ dao động, như trường hợp bé mọc răng, bé biết bò, biết trườn, mặc quá nhiều quần áo, sau tiêm chủng… được gọi là tăng thân nhiệt sinh lý. Bên cạnh tăng thân nhiệt do sinh lý, còn có rất nhiều nguyên nhân do bệnh lý, khiến trẻ bị sốt.



Sốt do nhiễm siêu vi

Đây là nguyên nhân hàng đầu gây ra sốt ở trẻ em, bệnh thường khỏi sau 5 - 7 ngày, có rất nhiều loại siêu vi gây bệnh cho trẻ em.

Sốt xuất huyết: sốt cao đột ngột liên tục từ 2 - 7 ngày; thì xuất hiện những chấm hoặc mảng xuất huyết ở dưới da, nếu nặng hơn thì kèm theo chảy máu mũi, chảy máu chân răng, đôi khi có xuất huyết nội tạng.

Sốt do virút cúm: dấu hiệu đầu tiên thường là trẻ bị tắc nghẽn ở mũi, sau đó biểu hiện hắt hơi, ho khan và chảy nước mũi; kèm theo sốt, sốt thường là nhẹ khoảng nhiệt độ từ 37,8 - 380C, trường hợp bội nhiễm thì sốt cao, trẻ khó chịu, quấy khóc, chán ăn, bỏ bú…

Sốt do virút Rubella: biểu hiện sốt nhẹ, sau đó phát ban và viêm họng đường hô hấp trên, nổi hạch vùng chẩm, sau tai và cổ.

Sốt do virút sởi: trẻ sốt cao liên tục, ho nhiều, chảy nước mũi, mắt đỏ, từ ngày thứ 4 ban xuất hiện ở mặt, lan ra chân và chi.

Sốt do bệnh tay - chân - miệng: khi trẻ bị tay chân miệng, trẻ bị sốt, đồng thời cũng xuất hiện những nốt phỏng rộp ở gan bàn chân, bàn tay, trong miệng làm cho trẻ ăn, uống khó khăn, nên làm cho trẻ biếng ăn, quấy khóc, mệt mỏi nhiều.

Sốt do virút thủy đậu: khi bệnh khởi phát, trẻ có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau mình mẩy, sau đó trên thân mình trẻ xuất hiện những nốt hồng ban có đường kính vài milimét, sau 1 - 2 ngày mới xuất hiện các nốt đậu. Phỏng nước xuất hiện đầu tiên ở mặt, ngực và lưng sau đó lan dần khắp cơ thể. Mụn bóng nước ban đầu chứa chất dịch màu trong sau một ngày sẽ chuyển sang đục như mụn mủ. Sau 2 - 3 ngày mụn có thể đóng vảy. Các mụn nước này mọc làm nhiều đợt khác nhau nên trên cùng một vùng da có thể thấy nhiều dạng khác nhau, đỏ rát, mụn nước trong, mụn nước đục, mụn đóng vảy…

Sốt xuất huyết

Trẻ bị sốt do nhiễm vi trùng

Sốt do viêm họng - viêm Amydal cấp: bệnh thường khởi phát đột ngột, sốt cao 39 - 400C, kèm theo nuốt đau, rát họng, khàn tiếng; có thể kèm theo các triệu chứng khác: chảy nước mũi nhầy, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, trẻ mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, đặc biệt hay có viêm tấy hạch vùng cổ, hạch góc hàm sưng, đau… Với bé còn bú mẹ, viêm họng thường kèm theo bú ít hoặc bỏ bú, há miệng khi ngủ, bứt rứt khó chịu và quấy khóc. Với trẻ lớn hơn triệu chứng kêu đau vùng họng, chán ăn nên dễ làm cho cha mẹ nhầm tưởng rằng đó là những dấu hiệu khó chịu khi bé mọc răng.

- Nhiễm trùng đường hô hấp như: viêm khí phế quản, viêm phổi, viêm màng phổi, áp-xe phổi, trẻ thường có biểu hiện sốt, ho khạc đờm hay máu, đau ngực, khó thở…

- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu như: viêm bàng quang, viêm mủ bể thận, viêm cầu thận cấp, trẻ bị sốt kèm theo tiểu buốt - tiểu rắt, tiểu ít, nước tiểu đục hay hồng, có phù, đau vùng thắt lưng.

- Nhiễm trùng đường gan mật, trẻ thường sốt cao kèm theo vàng da, vàng mắt, đau vùng gan.

- Nhiễm khuẩn não - màng não, trẻ bị sốt cao kèm theo đau đầu nhiều, nôn vọt, có thể bị co giật, liệt nửa người hoặc hôn mê. Với trẻ nhỏ, sốt kèm theo thóp phồng, cổ cứng, trẻ không cử động cổ được, không cúi đầu xuống được, nhạy cảm với ánh sáng, nôn mửa, li bì.

- Nhiễm trùng máu, trẻ có biểu hiện dấu hiệu nhiễm trùng, sốt cao liên tục, không ăn uống được, nôn ra tất cả, li bì, mạch nhanh, thở nhanh, có thể có phát ban da…

Một số nguyên nhân khác

Sốt do ký sinh trùng sốt rét: trẻ thường có tiền sử sống hay đi vào vùng lưu hành sốt rét, sốt rét ở trẻ thường ít có cơn sốt rét điển hình như người lớn như: rét run, sốt cao, đổ mồ hôi, mà, mà trẻ thường sốt kéo dài, liên tục, có hoặc không kèm lạnh run, đôi khi chỉ ớn lạnh, mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ.

Số do thương hàn: trẻ thường sốt cao liên tục trên 5 ngày, đau bụng, bụng chướng, nôn, tiêu chảy hoặc táo bón.

Sốt do bệnh lao: trẻ thường có dấu hiệu sốt kéo dài, thường sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm, biếng ăn, đứng cân hay sụt cân, ho nhiều, ho ra máu và không đáp ứng với kháng sinh thông thường.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Có biểu hiện này trẻ thiếu canxi trầm trọng

[me va be]Có biểu hiện này trẻ thiếu canxi trầm trọng các mẹ cần bổ sung ngay cho con trước khi quá muộn.


Tính tình bất thường

Bố mẹ hãy quan sát trẻ thật kỹ, nếu thấy bé thường khó chịu, yên tĩnh và náo loạn một cách kỳ lạ, bồn chồn, không chịu hợp tác thì điều đó chứng tỏ trẻ thiếu canxi. Khi ấy, bố mẹ cần bổ sung thêm lượng canxi cho bé.



Đổ nhiều mồ hôi vào ban đêm

Trẻ bị thiếu vitamin D trong giai đoạn mới sinh thường mắc chứng đổ mồ hôi trộm. Trẻ dưới 1 tuổi đa số hay thiếu vitamin D do đây là giai đoạn hệ xương phát triển mạnh mẽ nhất, ngoài ra trẻ sinh non, trẻ sinh nhẹ cân, trẻ mắc các chứng bệnh nhiễm khuẩn, trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài, trẻ còi xương… là những đối tượng bị thiếu hụt vitamin D trầm trọng. Nếu để ý, các mẹ dễ nhận thấy trẻ thường hay ra mồ hôi nhiều ở trán, vùng gáy ngay cả khi thời tiết đang lạnh, đặc biệt là lúc trẻ ngủ nên trẻ hay rụng tóc ở phần sau gáy.

Trẻ bị thiếu vitamin D trong giai đoạn mới sinh thườnghay ra mồ hôi nhiều ở trán, vùng gáy ngay cả khi thời tiết đang lạnh, đặc biệt là lúc trẻ ngủ nên trẻ hay rụng tóc ở phần sau gáy (Ảnh minh họa)Khi trẻ bị đổ mồ hôi nhiều, mẹ nên sử dụng quạt, máy lạnh, mặc quần áo mỏng, cho trẻ ở trong phòng thoáng mát, cho trẻ uống nhiều nước để không bị mất nước… Nếu ban đêm trẻ cũng bị đổ mồ hôi nhiều mẹ nên thường xuyên dùng khăn khô mềm lau người cho trẻ, tránh để mồ hôi gây cảm lạnh cho trẻ do mồ hôi hấp thụ ngược vào cơ thể.

Trẻ biết đi muộn, bị biến dạng xương và khớp

Hầu hết thiếu hụt canxi ở trẻ dưới 1 tuổi đều biểu hiện ở khu vực chân. Chân cong hình chữ O, chữ X, cơ bắp lỏng lẻo, yếu mềm. Xương mềm khiến các bé biết lẫy, bò, đứng, đi rất muộn so với các bạn đồng trang lứa.

Giật mình khóc đêm

Bởi vì canxi thiếu làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của hệ thần kinh trung ương, hoạt chất làm chậm dẫn truyền thần kinh (từ tryptophan sang melatonine), làm thư giãn não, tạo giấc ngủ sâu bị ức chế, khiến trẻ hay giật mình, khó ngủ, ngủ hay mơ màng và bất an. Ngoài ra trẻ còn có thể bị co thắt thanh quản gây khó thở, bị ọc sữa do co thắt dạ dày… Do đó, trẻ thường xuyên ngủ không ngon giấc, quấy khóc.

Thiếu canxi cũng làm chậm các quá trình trao đổi chất, khiến trẻ chậm lớn, thấp còi. Sức khỏe không đảm bảo cùng với sự trằn trọc khi ngủ sẽ khiến trẻ dễ bị kiệt quệ, mệt mỏi, càng làm cho giấc ngủ chập chờn và quấy khóc nhiều hơn. Tiếng khóc của bé không bình thường, khóc thét, co cứng toàn thân, mặt đỏ, tím, càng dỗ, càng ru và cho bé trẻ càng khóc. Mỗi lần như vậy có thể kéo dài vài giờ hoặc thậm chí suốt đêm.

Thóp não liền muộn

Thóp não là vùng mềm giữa các xương sọ bên trên trán của trẻ sơ sinh. Bình thường thóp sẽ đóng lại khi bé được 12–18 tháng tuổi. Trong trường hợp thóp đóng lại muộn có thể là dấu hiệu trẻ thiếu canxi khiến còi xương, suy dinh dưỡng.

Móng tay giòn và yếu

Giống như xương, móng tay cũng cần canxi để phát triển khỏe mạnh và có độ cứng. Vì thế, nếu trẻ thiếu canxi, mẹ sẽ nhận thấy móng tay của con rất yếu và dễ gãy.

Hay mắc các bệnh về đường hô hấp

Canxi dường như đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ thống miễn dịch khỏe mạnh. Theo các chuyên gia, nếu thiếu canxi, sức đề kháng của cơ thể sẽ suy giảm từ đó khiến các bé dễ mắc các bệnh về đường hô hấp hoặc bị nhiễm trùng đường ruột.

Chậm mọc răng, sâu răng

Bé chậm mọc răng hoặc răng mọc nhưng bị lệch, không đều cũng là biểu hiện tình trạng thiếu hụt canxi.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Chỉ đau đầu và nôn trớ - nhưng là dấu hiệu ung thư gây tử vong cao nhất ở trẻ em

[me va be]Triệu chứng chỉ là đau đầu và nôn trớ - nhưng là dấu hiệu ung thư gây tử vong cao nhất ở trẻ em - các mẹ cần chú ý ngay lập tức!



U não là sự phát triển bất thường của một loại tế bào thần kinh và đứng thứ hai trong các bệnh ung thư ở trẻ em. Tỷ lệ mắc u tiên phát ở khoảng 2-3/100.000 trẻ, nam nhiều hơn nữ. Đây là bệnh nguy hiểm, đe dọa tính mạng của trẻ, do vậy cần được phát hiện sớm để điều trị kịp thời.

Hiện nay ung thư não là căn bệnh gây tử vong cao nhất cho trẻ em ở Mỹ, hơn cả bệnh ung thư máu. Bản báo cáo thống kê của Chính phủ Mỹ được dựa trên bản chứng tử trong số 15 năm qua.

"Khi nghĩ nói về ung thư trẻ em, mọi người thường nghĩ tới ung thư máu. Nhưng giờ có một sự thay đổi lớn", Sally Curtin thuộc Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết.

Ung thư là nguyên nhân thứ 4 gây ra tử vong cho trẻ em nói chung. Theo số liệu năm 2014, cứ có 10 trẻ em qua đời thì có 1 trẻ do mắc ung thư.




Bé gái 2 tuổi mắc ung thư não được ướp xác chờ hồi sinh

Vào một buổi sáng tháng 4-2014, cô bé Matheryn Naovaratpong, 2 tuổi ở Bangkok, Thái Lan vừa thức giấc thì không ngồi dậy được.

"Con gái kêu đau đầu, tay chân như tê liệt, mắt không thể nhắm, cho uống sữa thì trớ ra hết", bố cô bé, một kỹ sư y khoa kể lại.

Sau khi được đưa đến bệnh viện để thăm khám, làm các xét nghiệm cận lâm sàng, cô bé được chẩn đoán bị mắc bệnh ung thư nguyên bào mãng não thất, một dạng u não ác tính, với khối u 11 cm ở não trái.

Theo thống kê, chỉ 30% người mắc bệnh này có thể sống sót được trong 5 năm. 96% người bệnh chết ngay trong năm đầu tiên.

Vài ngày sau đó, bé Naovaratpong nhanh chóng rơi vào trạng thái hôn mê. Trong hơn 1 tháng điều trị, cô bé đã phải trải qua 12 lần phẫu thuật não, 20 lần hóa trị và 20 lần xạ trị. Nhưng cuối cùng, các bác sĩ đành phải buông tay.

Dù rất đau lòng, vợ chồng Sahatorn đành phải chấp nhận ngắt các thiết bị duy trì sự sống cho con. Khi qua đời, 80% chức năng não trái của bé đã mất.

Cô bé Naovaratpong qua đời vào tháng 1-2015 trước khi mừng sinh nhật tròn 3 tuổi.

Thương xót đứa con gái bé bỏng phải ra đi khi tuổi đời quá nhỏ, vợ chồng Sahatorn quyết định mang lại cho bé một cơ hội sống khác bằng kỹ thuật đông lạnh. Họ chờ đợi một phép màu y học sau này sẽ giúp cô gái hồi sinh.

Hiện nay, mặc dù những ca mắc ung thư máu mới nhiều hơn so với ung thư não nhưng con số tử vong do loại ung thư này gây ra không còn chiếm đa số.

Đó là do những tiến bộ trong phác đồ điều trị ung thư bạch cầu trong vài thập kỷ qua. Các chuyên gia cho biết bệnh ung thư máu dễ chữa trị hơn ung thư não.

Các triệu chứng thần kinh thường gặp

Đầu to, thóp phồng, giãn khớp sọ. Mắt bị phù gai thị, sụp mi, giãn đồng tử, đồng tử không cân xứng, lác mắt, mất thị lực. Trẻ mất thăng bằng, mất phối hợp động tác, tăng phản xạ. Nhiều trường hợp bị liệt dây thần kinh số 7, hoặc liệt nửa người, hoặc liệt hai chi dưới. Trẻ có thể bị lú lẫn, sững sờ hoặc hôn mê. Nếu khám toàn trạng sẽ thấy trẻ chậm lớn, dậy thì sớm hoặc muộn, cổ cứng.

Dấu hiệu nhận biết ung thư não ở trẻ em

Với ung thư não, hầu hết các khối u trong não phát triển ở phần dưới của não (tiểu não hoặc thân não), khi tế bào ung thư phát triển quá nhanh trong các mô thần kinh tạo thành khối u não ác tính.

Các triệu chứng của u não thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí khối u trong não, kích thước, mức độ phát triển khối u và độ tuổi của trẻ.

Mặc dù đã liệt kê rất nhiều dấu hiệu nhưng các nhà khoa học nhấn mạnh rằng tất cả triệu chứng dưới đây có nhiều khả năng được gây ra bởi 1 tình trạng bệnh lý khác, chứ không riêng gì khối u não.

Vì thế, các bậc phụ huynh nên quan tâm đặc biệt tới sức khỏe con em. Nếu nhận thấy bất kỳ triệu chứng hoặc hành vi khác lạ nào của con, hãy đưa con đi khám để có những biện pháp điều trị kịp thời.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Trẻ chậm cắt rốn sau sinh 3 - 5 phút sẽ lớn lên thông minh, khỏe mạnh hơn

[me va be]Trẻ sinh non được cắt dây rốn chậm sẽ giảm nguy cơ chảy máu não và tổn thương ruột do được truyền thêm máu qua nhau thai. Đối với trẻ sinh đủ tháng bình thường, chậm cắt dây rốn vài phút sẽ giúp quá trình chuyển đổi thuận lợi hơn và hệ hô hấp được hoàn thiện hơn.



Từ trước đến nay, việc kẹp và cắt dây rốn trẻ sơ sinh luôn được bác sĩ và nữ hộ sinh thực hiện ngay khi em bé cất tiếng khóc chào đời, và hành động này được xem như sự kết thúc quá trình chuyển dạ và sinh con ở mẹ bầu. Tuy nhiên hiện nay, các bác sỹ lại chỉ ra những lợi ích to lớn của việc chậm cắt rốn sau sinh cho trẻ và khuyến khích mẹ bầu nên thực hiện theo phương pháp này để trẻ lớn lên thông minh, khỏe mạnh hơn. 

Lý giải điều này, các bác sỹ cho rằng chậm cắt dây rốn cho trẻ sơ sinh mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực, đặc biệt với trẻ sinh non. Trẻ sinh non được cắt dây rốn chậm khoảng vài phút có thể giảm nguy cơ chảy máu não và tổn thương ruột, do được truyền thêm máu qua nhau thai, có thêm sắt trong máu nên giảm nhu cầu truyền máu. Đối với trẻ sinh đủ tháng bình thường, việc cắt dây rốn chậm cũng mang lại nhiều lợi ích, trẻ sẽ có quá trình chuyển đổi thuận lợi hơn và hệ hô hấp cũng hoàn thiện hơn.





Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, tránh hoàn toàn các nguy cơ nhiễm khuẩn có thể gặp phải, phương pháp này chỉ nên áp dụng đối với trường hợp sinh thường, không nên áp dụng với những ca sinh mổ.

Những lợi ích to lớn đối với sức khỏe của trẻ sơ sinh khi được cắt rốn chậm: 

Tăng khả vận động của trẻ

Các nhà khoa học Thụy Điển cho rằng, cắt dây rốn ngay sau sinh là hành động tước đi “cơ hội” nhận đầy đủ các tế bào gốc “tự nhiên” từ cơ thể mẹ của trẻ sơ sinh. Điều này sẽ khiến trẻ phải chịu nhiều “thiệt thòi” hơn về sức khỏe so những trẻ được cắt dây rốn chậm sau sinh.

Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, mặc dù sự phát triển như nhau, nhưng những trẻ 4 tuổi được kẹp cắt dây rốn trong 3 phút sau sinh có kỹ năng vận động tốt hơn những trẻ cắt dây rốn trong vòng 10 giây sau chào đời.

Giảm nguy cơ thiếu máu

Theo cơ chế sinh lý của hoạt động sống, khi dây rốn chưa ngừng đập nghĩa là trẻ sơ sinh vẫn được nhận từ người mẹ một lưu lượng máu nhất định thông qua nhau thai. Như vậy, sau khoảng 2 - phút sau khi lọt lòng, phổi trẻ có thể tự đảm nhận việc đưa oxy vào máu, đồng thời nhận được thêm khoảng 30% tế bào hồng cầu, tế bào gốc và lượng chất sắt nhờ vào việc gắn kết với mẹ qua dây rốn.

Trẻ chậm cắt rốn sẽ giảm được nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt sau sinh

Nhờ đó đó, việc chậm cắt dây rốn sẽ giúp trẻ có thêm thời gian để nhận đủ lượng máu, giúp trẻ ngăn ngừa nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt sau sinh


Phát triển não bộ

Do cắt dây rốn chậm, trẻ sơ sinh sẽ nhận đủ lượng máu và lượng sắt cần thiết ngay từ những phút đầu đời. Nhờ đó, trẻ sẽ có hệ thần kinh khỏe mạnh và phát triển hơn những trẻ cắt rốn theo phương pháp thông thường.

Một số nhà khoa học Mỹ cũng nhận định rằng, việc chậm cắt dây rốn khoảng 3 phút sẽ giúp trẻ sơ sinh có chỉ số IQ cao hơn và thông minh hơn khi lớn lên. 

Có lợi cho trẻ sinh non

Nghiên cứu của Mercer và CS đăng trên tạp chí Pediatr (2016) cho biết, phương pháp cắt dây rốn chậm có thể giúp trẻ sinh non dưới 32 tuần ngừa thiếu máu lúc 6 tuần tuổi và cải thiện khả năng vận động khi đến 18 tháng tuổi.

Ngoài ra, kẹp cắt dây rốn muộn 2 - 5 phút cũng giúp giảm nguy cơ xuất huyết não và viêm ruột hoại tử ở trẻ sinh non.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

5 thói quen tai hại của bố mẹ dễ khiến trẻ từ khỏe mạnh trở thành điếc

[me va be]Ngày này, có rất nhiều trẻ em sinh ra khỏe mạnh, phát triển bình thường nhưng lại bị điếc do chính thói quen của bố mẹ trong việc chăm sóc trẻ hàng ngày. Vậy đó là những thói quen gì?




Cho trẻ nghe nhạc quá lớn





Thính giác trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn chỉnh và rất dễ tổn thương bởi âm thanh lớn. Chính vì vậy, việc mẹ mở nhạc quá lớn hoặc cho con đến những nơi mở nhạc ổn ào như tiệc, hát karaoke đều có thể khiến tai trẻ bị ảnh hưởng. Ngoài ra, ngay cả khi trẻ còn trong bụng mẹ, nếu bố mẹ cho con nghẹ nhạc như áp tai nghe vào bụng trẻ, mở loa quá lớn cũng có thể ảnh hưởng tới thính giác của con.

Tốt nhất bố mẹ chỉ nên cho trẻ nghe nhạc 30 phút/ngày, âm lượng vừa phải và nghe bằng loa ngoài, hạn chế nghe nhạc ồn ào nơi đông người để bảo vệ thính giác của con.


Véo má trẻ

Trẻ sơ sinh nào cũng rất dễ thương và có hai má phúng phính. Đây là điều ai cũng yêu và muốn bẹo má trẻ một cái cho "bõ ghét". Tuy nhiên ít mẹ biết rằng, việc véo má con thường xuyên với tần suất nhiều và mạnh lại có thể khiến con có nguy cơ bị điếc rất cao. Nguyên nhân là do trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn thiện, các chức năng cơ quan còn non yếu rất dễ bị tổn thương. Đặc biệt, khi vẹo má sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển tai, gây tổn thương ống tai, có thể dẫn tới thủng màng nhĩ non nớt của trẻ.


Cho trẻ nằm ngửa bú bình

Đây là thói quen của rất nhiều mẹ khi cho con bú sữa bình. Hầu hết các mẹ đều cho trẻ bú nằm, đặc biệt khi con đang trong cơn buồn ngủ hoặc cho bú sữa giữa cữ đêm. Việc bú nằm sẽ nhàn cho mẹ nhưng cực hại cho con, vì khi bú bình nằm, sữa có thể vô tình chảy vào ống tai và gây viêm ống tai, gây viêm tai giữa và dẫn tới điếc nếu điều trị không kịp thời.

Vì vậy, với trẻ bú bình mẹ, nếu mẹ cho bé bú nằm thì nên kê cao gối cho trẻ để tránh sữa tràn vào tai.


Cho trẻ xì mũi quá mạnh

Việc để trẻ xì mũi sai cách và quá mạnh cũng có thể khiến trẻ bị điếc. Thông thường, bố mẹ rất ít khi dạy trẻ xì mũi đúng cách mà sẽ để con tự làm theo bản năng. Trong khi đó, trẻ nhỏ chưa hiểu chuyện, nói "xì mũi" thì sẽ xì thật nhanh và mạnh, thậm chí không xì hết nước mũi ra mà còn nuốt chúng.

Khi dạy trẻ xì mũi, bố mẹ nên dạy trẻ xì từng bên nhẹ nhàng, bên còn lại dùng tay bịt lỗ mũi lại. Như vậy, nước mũi dễ dàng ra ngoài mà không ảnh hưởng tới tai.


Thường xuyên ngoái tai cho trẻ

Nhiều bố mẹ lại có thói quen lấy ráy tai thường xuyên cho con vì sợ tai con bị bẩn. Tuy nhiên, lấy ráy tai thường xuyên sẽ vô tình khiến tai trẻ mất đi sự bảo vệ khỏi bụi bẩn và vi khuẩn. Ngoài ra, bố mẹ cũng nên hiểu rằng trong quá trình phát triển và hoàn thiện ống tai, ráy tai của trẻ sẽ tự động được đẩy ra ngoài. Trừ một số trường hợp ráy tai sẽ không được đẩy ra ngoài, bám chặt vào ống tai thì bố mẹ mới nên ngoáy tai cho trẻ.



Khi ngoáy tai cho con, bố mẹ tuyệt đối không cố gắng đưa tăm bông sâu vào tai vì điều này có thể vô tình đẩy ráy tai vào sâu hơn, đưa vi khuẩn vào tai, làm trầy xước ống tai, chọc vào màng nhĩ... Tất cả những điều này đều có nguy cơ gây điếc tai cho trẻ.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Hướng dẫn chăm sóc da cho trẻ sơ sinh không bị rôm sảy

[me va be]Chăm sóc để cho trẻ không bị rôm sảy luôn là một trong những điều quan tâm đối với các mẹ. Vậy các mẹ đã tìm được chăm sóc trẻ hiệu quả hay chưa?



Rôm sảy là một trong “kẻ thù” đối với trẻ nhỏ. Tuy nhiên nếu được chăm sóc đúng cách thì rôm sảy sẽ không xảy ra với các bé đâu. Sau đây chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách chăm sóc da cho trẻ sơ sinh không bị rôm sảy.

Nguyên nhân khiến gây rôm sảy ở trẻ nhỏ

+ Do các tuyến mồ hôi bị tắc nghẽn:

Việc tắc nghẽn tuyến mồ hôi ở trẻ có thể do: các ống tuyến mồ hôi ở trẻ phát triển chưa hoàn chỉnh nên rất dễ khiến mồ hôi không có đường thoát ra ngoài. Điều này thường xảy ra khi thời tiết nóng nhưng đôi khi cũng do trẻ được cho mặc quần áo quá nóng.

Trẻ bị sốt cao hay trẻ ở trong lồng ấp cũng có thể bị nghẽn các ống tuyến mồ hôi;

Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như: khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm; mặc quần áo, tã lót bằng một số loại vải pha nilon gây bí; do một vài vi khuẩn thường trú ngoài da có thể bài tiết một loại chất nhờn làm bít các ống tuyến mồ hôi,…


Khi trẻ bị rôm sảy các mẹ nên làm gì?

+ Hãy luôn giữ cơ thể bé luôn thoáng mát, sạch sẽ:

Để trẻ không khó chịu bởi rôm sảy, các mẹ nên cho trẻ mặc quần áo có chất liệu vải mỏng, rộng, nhạt màu, thấm mồ hôi.




Hướng dẫn cách chăm sóc trẻ không bị rôm sảy

Đồng thời, mẹ hãy thường xuyên tắm cho bé để mồ hôi bài tiết dễ dàng hơn, dùng khăn lạnh để lau người cho bé. Mẹ cũng chú ý điều chỉnh nhiệt độ điều hòa hay sử dụng quạt máy vừa phải trong phòng ngủ của bé.

+ Các mẹ hãy đảm bảo vệ sinh khi tắm nước lá cho bé:

Việc rửa sạch, kỹ và ngâm qua nước muối hoặc thuốc tím các loại lá (mướp đắng. khế, kinh giới,…) trước khi nghiền, lọc hay đun nước tắm cho bé.

Hơn nữa, mẹ hãy đảm bảo tắm sạch cho bé bằng sữa tắm trước khi tắm bằng nước lá hoặc sau khi tắm nước lá, mẹ cần chú ý tắm sơ qua cho bé bằng nước ấm để rửa trôi lượng bột của lá có thể đọng trên da, gây nhiễm khuẩn.

+ Hãy cân nhắc khi dùng phấn rôm:

Việc các mẹ bôi, chấm phấn rôm lên vùng da bị rôm sảy sẽ làm dịu cơn ngứa của bé và điều trị hiệu quả tình trạng này.

Tuy nhiên cũng theo các chuyên gia thì trên thị trường có rất nhiều loại phấn rôm khác nhau với đủ thương hiệu khác nhau, mẹ cần cân nhắc, tham khảo ý kiến của người than, bác sĩ để tránh gây “tác dụng ngược”, nguy hiểm đến làn da của bé.


Mách mẹ một số loại nước tắm dân gian giúp trẻ hết rôm sảy:

1 .Mướp đắng (hay còn gọi là khổ qua)

Các mẹ nên cho mướp đắng vào máy sinh tố xay nhỏ, cho bã vào miếng vải buộc chặt, nấu lấy nước cho bé tắm. Làm như vậy đều đặn trong một tuần, các nốt rôm sảy ở trẻ sẽ lặn hết. Liều lượng là 2 quả mướp/lần tắm.

2.Lá chè xanh, rửa sạch, bóp nát nấu với nước, dùng tắm cho bé có tác dụng kháng khuẩn và làm mát da.

3. Dùng nước ấm, pha thêm chút muối không quá mặn và tùy theo lượng nước nhiều hay ít mà vắt thêm vào đó một hoặc nửa quả chanh, tắm cho bé sẽ cho cảm giác mát mẻ. (Nhưng lượng muối cần được điều chỉnh cho phù hợp các mẹ nhé).

Tuy nhiên, trong trường hợp nhọt mọc liên tiếp và mọc dày thì phải đưa trẻ đến ngay bệnh viện để bác sĩ tìm ra nguyên nhân.


Một số lưu ý cho các mẹ để trẻ không bị rôm sảy

+ Các mẹ không nên ủ bé quá kỹ hay mặc quá nhiều quần áo cho bé.

+ Hãy hạn chế để trẻ đi ra nắng, tắm nước mát, uống đủ nước.

+ Trong trường hợp trẻ bị rôm sảy, các mẹ hãy tránh làm trầy xước các vết rôm sảy, bởi lẽ khi bị trầy xước da, dễ dẫn đến nhiễm trùng da.

+ Hãy luôn giữ cho da bé được khô ráo và sạch sẽ.

+ Khi chọn quần áo cho trẻ được thiết kế bằng những chất liệu mát mẻ và thấm hút tốt.

+ Các mẹ cũng Không nên thoa quá nhiều kem hay phấn lên da trẻ vì sẽ bịt lại các lỗ chân lông, dễ khiến trẻ bị nổi rôm hơn nhé.

Hướng dẫn chăm sóc vùng kín cho trẻ sơ sinh không bị hăm đỏ

[me va be]Đối với trẻ sơ sinh, việc vùng kín của trẻ bị hăm đó là việc rất dễ xảy ra, vậy làm thế nào để có thể chăm sóc cho trẻ sơ sinh không bị hăm đỏ?



Hướng dẫn chăm sóc vùng kín cho trẻ sơ sinh không bị hăm đỏ

Hầu hết các bậc cha mẹ thường rất lo lắng khi vùng kín của con thường bị hăm đỏ và không biết cách nào để có thể giải quyết được vấn đề. Vậy, để có thể giúp các mẹ giải quyết vấn đề, thì hãy cùng chúng tôi tham khảo những thông tin dưới đây nhé!

Nguyên nhân gây ra chứng hăm đỏ ở trẻ

+ Hăm đỏ (hăm tã) có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này ở trẻ sơ sinh những phổ biến nhất là do nước tiểu của bé đọng lại quá lâu nếu mẹ ít thay tã.

+ Hăm cũng có thể xảy ra do khi tắm xong, người bé còn ẩm mà mẹ đã vội quấn tã…

+ Ngoài ra, việc lạm dụng phấn rôm cũng là một nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Nhiều mẹ rất thích thoa một lượt phấn rôm cho bé sau khi bé tắm xong. Cảm giác bé thơm tho, mát mẻ khiến mẹ lầm tưởng rằng phấn rôm có thể làm mát da mát thịt, chống rôm sẩy và chống hăm. Thực chất phấn rôm dễ làm bít tắc lỗ chân lông, gây khó khăn cho việc thoát ẩm của da và khiến hăm da xuất hiện.



+ Hăm tã không chỉ là do những tác động từ bên ngoài mà còn có thể do da bị kích ứng với chất liệu của tã lót, tã lót của bé không được sạch sẽ, quấn tã quá chặt, bé ăn thực phẩm mới, bị tiêu chảy kéo dài…

Hướng dẫn cách chăm sóc trẻ khi trẻ bị hăm đỏ?

+ Việc trẻ bị hăm đỏ sẽ không ảnh hưởng gì nếu phát hiện sớm và xử lý ngay thì vùng da hăm sẽ nhanh chóng lành lặn.

+ Tuy nhiên, các chuyên gia đã khuyên các mẹ là quan trọng nhất là chú trọng vệ sinh cho bé:

Bước 1: Cần phải rửa vùng kín cho bé ngay sau khi bé đi vệ sinh xong bằng nước ấm, sạch, rồi thấm khô bằng khăn bông và thay tã mới.

Bước 2: Khi rửa cần nhẹ nhàng, tránh để bé đau và xây xước da thêm.

Bước 3: Cuối cùng, các mẹ dùng khăn ướt có thể làm khô da bé, bạn cần cẩn thận chọn loại không cồn và không mùi.

+ Bên cạnh đó các mẹ cũng cần rửa tay sạch sẽ trước khi tiếp xúc với da bé và nhớ kiểm tra thường xuyên để kịp thời phát hiện khi tã lót của bé ướt.

Mách mẹ cách phòng chống khi trẻ bị hăm đỏ

Các mẹ nên dùng tã giấy có khả năng hút tốt vì nó sẽ khiến da của bé khô lâu. Nên thay tã cho con thường xuyên ngay cả khi bạn nghĩ bé không bị ướt.

Đừng quên việc vệ sinh sạch sẽ vùng kín cho trẻ mà thay vào đó, các mẹ nên rửa sạch vùng quấn tã với nước sau khi thay tã. Và các mẹ không dùng khăn ướt có cồn để lau cho con đâu các mẹ nhé.

+ Trong trường hợp bé bị hăm nặng, sau khi vệ sinh xong nên nhúng mông của bé vào chậu nước có pha baking soda (một bát nhỏ baking soda vào một chậu nước). Cách này giúp trung hòa axit trong phân và nước tiểu. Sau đó, lau khô bằng khăn mềm.

+ Thỉnh thoảng, các mẹ cũng đừng đóng bỉm cho trẻ mà hãy để trẻ được thoáng khí. Trong giấc ngủ ngắn của bé, nếu trời ấm, bạn có thể cởi bỉm cho con, gấp một chiếc tã vải lót trên tấm ni-lon rồi kê dưới mông của bé, tránh giường ướt do bé tè dầm các mẹ nhé.

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2016

Điều bố mẹ bắt buộc phải biết khi dùng tã cho trẻ

[me va be]Cho trẻ mặc tã vào ban đêm là một trong những cách hữu hiệu giúp cả trẻ lẫn bố mẹ được ngủ ngon giấc.



Khi quyết định cho trẻ mặc tã để ngủ, bố mẹ cần lưu ý những điều dưới đây để con luôn cảm thấy thoải mái nhất!



Cần đúng kích cỡ

Sản phẩm bỉm vô cùng đa dạng từ chủng loại, màu sắc, họa tiết... Tiêu chuẩn chọn bỉm cho bé dựa vào: lứa tuổi, kích cỡ, cơ địa. Do đó, khi đi mua bỉm các bà mẹ nên nhớ, trên bao bì của mỗi bịch bỉm đều có ghi size bỉm tương ứng với mức cân nặng của trẻ. Có nhiều bà mẹ suy nghĩ cho con mặc bỉm size rộng thì trẻ sẽ cảm thấy thoải mái hơn. Hoặc cho con mặc bỉm quá chặt để nước tiểu không chảy ra ngoài. Tuy nhiên việc mặc bỉm quá rộng hoặc quá chật là một sai lầm khi dùng bỉm cho trẻ.

Khi mặc bỉm size lớn, bỉm sẽ không ôm khít được háng bé khiến cho nước tiểu có thể tràn ra ngoài. Còn nếu mặc bỉm size nhỏ, điều này sẽ khiến trẻ không thoải mái và khó chịu. Vì vậy, để tiện lợi và an toàn nhất cho trẻ, mẹ nên chọn loại theo đúng lứa tuổi, cân nặng của trẻ. Tuyệt đối không mua size to để tái sử dụng. Cùng một thời điểm không mua quá nhiều bỉm, vì trẻ con thường lớn rất nhanh.

Không đóng bỉm sai cách

Với các mẹ thiếu kinh nghiệm, lần đầu đóng bỉm cho con vẫn còn lóng ngóng và chưa thành thạo nên không tránh khỏi việc đóng bỉm sai cách cho con. Các mẹ cần biết, với bé trai và gái thì cần có cách đóng bỉm khác nhau.

Đóng bỉm cho bé trai: Các mẹ nhớ chú ý vùng kín của con khi đóng bỉm. Với các bé trai, khi đóng bỉm mẹ hãy để bộ phận sinh dục của con chúi xuống để khi đi tiểu, nước tiểu sẽ không bị trào ra ngoài. Ngoài ra, các bé trai thường bị ướt ở phần trước của tã nên khi mua, mẹ nên lựa chọn loại bỉm có lớp lót phụ thêm ở phía trước.

Đóng bỉm cho bé gái: Đặc điểm của các bé gái khi đi tiểu thường ướt ở giữa hoặc phía sau của tã nên mẹ cần chọn loại bỉm có độ dày tập trung ở vị trí con có thể tiểu nhiều nhất.

Giảm khó chịu do hăm tã

Nếu trẻ bị hăm tã, bất kỳ sự ẩm ướt nào cũng có thể gây kích ứng cho làn da khiến vùng da đó của trẻ thêm nổi mẩn đỏ và bong tróc. Đặc biệt, khi nước tiểu bị loang ra, nó tạo ra amoniac như một sản phẩm phụ, khiến da bị kích thích nặng hơn. Sự ẩm ướt của chiếc tã ướt có thể đánh thức trẻ. Do đó, bố mẹ cần điều trị kịp thời bất kỳ dấu hiệu mẩn đỏ hoặc bong tróc da nào với thuốc thoa chứa oxit kẽm giúp ngăn ngừa hoặc làm dịu chứng hăm tã.

Giữ ấm cho trẻ

Nếu em bé bị lạnh vào ban đêm, một chiếc tã ẩm ướt có thể làm tăng cảm giác khó chịu và sẽ đánh thức trẻ. Thay vì đắp mền cho một em bé hiếu động để rồi trẻ có thể đá văng nó trong đêm, bố mẹ nên mặc cho con một bộ đồ ngủ dài sẽ giúp giữ ấm tốt ngay cả khi trẻ lăn lộn vòng quanh. Tuy nhiên, đừng vì vậy mà khoác lên trẻ quá nhiều lớp quần áo. 

Tư thế nằm giúp trẻ sơ sinh phát triển tối ưu thị giác và não bộ

[me va be]Muốn con thông minh, khỏe mạnh phát triển toàn diện, mẹ hãy cho trẻ nằm tư thế này từ khi sơ sinh.





Trẻ nằm sấp ít bị bẹp đầu, méo đầu

Cho trẻ nằm ngửa, không xoay trở đầu thường xuyên sẽ khiến đầu con có nguy cơ bị bẹp, méo nhiều hơn. Trong khi đó trẻ cho nằm sấp sẽ hạn chế được tình trạng này, đồng thời khả năng xoay đầu cũng tốt và linh hoạt hơn.

Có lợi cho hệ tiêu hóa

Tâm lý chung của các mẹ, trẻ con nếu cho nằm sấp sẽ khiến trẻ khó thở, tức ngực, tức bụng khiến bé khó chịu. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ nằm sấp rất tốt cho hệ tiêu hóa vì khiến nhu động ruột hoạt động tốt hơn giảm được chứng táo bón, đồng thời khi nằm sấp trẻ sẽ dùng sức nhiều để di chuyển cơ thể do đó trẻ sẽ nhanh đói và ăn ngon hơn.

Lưu ý: Chỉ tập cho bé nằm sấp khi rốn đã rụng.

Hỗ trợ khả năng vận động cho trẻ

Đối với người lớn, nằm sấp khiến chúng ta khó thở, tức bụng, tuy nhiên, với trẻ sơ sinh hoàn toàn ngược lại. Ngay từ khi trong bụng mẹ, trẻ đã được rèn luyện kỹ năng nằm sấp nhờ sự hỗ trợ của nước ối và bánh nhau. Vì vậy, ngay sau khi chào đời, trẻ sơ sinh thích được nằm sấp hơn nằm ngửa. Nằm sấp sẽ giúp chân tay con có thể khua khoắng, lớn hơn chút con trườn, choài, với, di chuyển, tập bò, chống tay... điều này hỗ trợ tối đa khả năng vận động của trẻ.

Các chuyên gia khuyên rằng, trẻ sơ sinh sau 2 - 3 tuần, mẹ có thể tập cho bé nằm sấp để phát triển cơ cổ, cánh tay, vai, đặc biệt là hộp sọ. Mẹ đừng lo lắng về việc trẻ sẽ khó thở khi nằm sấp, bản năng sinh tồn tự nhiên sẽ giúp con nhanh thích ứng với tư thế này và phát triển nhanh có kỹ năng vận động sau này.

Kích thích thị giác phát triển

Khi nằm ngửa, tầm nhìn của con chỉ gói gọn ở một khoảng không nhất định. Còn khi nằm sấp tầm nhìn sẽ rộng hơn, khả năng quan sát tốt hơn do trẻ quay được nhiều hướng để nhìn giúp thị giác phát triển mạnh mẽ, đồng thời mắt nhìn cũng linh hoạt hơn. Do đó, khi nào tập cho con nằm sấp, mẹ nhớ trang trí phòng con nhiều tranh ảnh với màu sắc sinh động, có điều kiện nên trang bị thêm những đồ chơi phát ra âm thanh nữa nhé, để kích thích thị giác và thính giác con hoạt động tốt hơn.

Số lần và thời gian tập cho bé nằm sấp

Một số chuyên gia nhi khoa khuyên các phụ huynh nên cho con chơi trong tư thế sấp bụng trong khoảng 5-10 phút mỗi lần và 2 lần mỗi ngày. Một số khác lại cho rằng không cần thiết phải khó khăn chuyện giờ giấc làm gì. Bạn chỉ cần chắc rằng luôn cho bé nằm sấp ít nhất 1 lần mỗi ngày và giữ cho bé đến lúc bạn thấy bé còn thoải mái đến việc này - dù cho đó là 15 giây hay 15 phút. Nếu bé bắt đầu khó và nhăn nhó, đó là lúc bạn nên bế con lên.

Một số em bé mới đầu sẽ phản kháng lại việc nằm sấp vì bé chưa kiếm soát tốt cơ thể của mình và thấy khó khăn để ngóc đầu lên. Nhưng càng thực hành nhiều, bé sẽ càng làm việc này tốt hơn. Vì vậy, bố mẹ đừng vội nản lòng nhé!

Khi nằm sấp trở nên quá khó khăn

Một số bé phản ứng dữ dội với việc được đặt nằm sấp, và việc này trở nên thật khó khăn. Các chuyên gia nhi khoa nhắn nhủ với các phụ huynh rằng việc bé gào khóc khi được lật sấp không có nghĩa rằng bé không thích điều đó.Vậy nếu bé thực sự phẫn nộ với việc nằm sấp thì sao? Hãy tiếp tục thử, càng tập bé sẽ càng làm tốt hơn. Khi cổ và đầu bé khoẻ hơn, bé sẽ hứng thú hơn với việc này.

Mọi em bé đều sẽ đạt đến từng mốc phát triển khi bé đã sẵn sàng, nên bạn đừng lo lắng nếu bé chưa muốn tập nằm sấp lúc này. Bạn có thể hỏi bác sĩ nhi khoa của con mình để được tư vấn thêm. Dù vậy, hãy đừng chần chừ tập nằm sấp cho bé, bạn sẽ sớm nhận ra đây là một phần rất vui trong ngày của bạn và con.

Chăm sóc răng sữa đúng cách

[suc khoe]Cùng với sự phát triển của trẻ, việc mọc răng sớm hay muộn vài tháng ở trẻ cũng là điều bình thường. Nguyên nhân trẻ chậm mọc răng có thể do một số yếu tố như trẻ sinh non...



Cùng với sự phát triển của trẻ, việc mọc răng sớm hay muộn vài tháng ở trẻ cũng là điều bình thường. Nguyên nhân trẻ chậm mọc răng có thể do một số yếu tố như trẻ sinh non, nhẹ cân, chế độ ăn của trẻ chưa hợp lý hoặc chế độ ăn của mẹ kiêng khem quá mức... Tuy nhiên, điều quan trọng là chăm sóc răng miệng cho trẻ cần bắt đầu ngay từ khi trẻ mọc răng sữa - là những chiếc răng mọc trong thời kỳ bú mẹ (dưới 30 tháng) còn được gọi là răng tạm thời rồi được thay thế bằng răng vĩnh viễn.

Công dụng của răng sữa

Răng sữa bắt đầu hình thành và cấu tạo từ trong bào thai và tiếp tục phát triển sau khi trẻ sinh ra. Răng sữa đầu tiên mọc lúc 6-8 tháng tuổi, sau đó trung bình cứ 4 tháng sẽ mọc các răng tiếp theo. Số lượng răng sữa đầy đủ là 20 cái (10 cái hàm trên và 10 cái hàm dưới) khi bé được 24-30 tháng. Mỗi hàm gồm 2 răng cửa giữa, 2 răng cửa bên, 2 răng nanh, 2 răng hàm nhỏ, 2 răng hàm lớn.

Răng sữa có công dụng giúp tiêu hóa thức ăn vì sau 6 tháng tuổi trẻ bắt đầu ăn thức ăn bổ sung đa dạng; nhờ có răng, trẻ có thể nhai, cắn thức ăn, giúp cho xương hàm phát triển bình thường.





Hệ răng sữa của trẻ.

Thông thường, một răng sữa mọc lên và đứng trên cung hàm. Sau đó chân răng bắt đầu tiêu dần, nhường chỗ cho một mầm răng vĩnh viễn trồi lên ngay đúng vị trí đó. Nếu răng sữa bị hỏng sớm phải nhổ khi chưa đến lúc, mầm răng vĩnh viễn bên dưới chưa lớn kịp nên không mọc ngay được, lỗ nhổ răng đó bị bịt lại và cứng chắc, khi mầm răng vĩnh viễn mọc lên sẽ khó khăn, mọc chậm và đôi khi mọc lệch. Răng sữa giữ chỗ trên xương hàm cho các răng vĩnh viễn sau này mọc lên đúng chỗ, đều và đẹp. Mặt khác, nếu răng sữa bị hỏng sớm phải nhổ, trẻ có thể nói ngọng... Như vậy, răng sữa đóng vai trò lớn trong việc tiêu hóa, phát âm và vẻ đẹp hình thể của trẻ sau này.

Chăm sóc răng miệng đúng cách cho trẻ

Thói quen ăn uống và chăm sóc răng miệng không đúng cách ở răng sữa có thể ảnh hưởng tới mầm răng vĩnh viễn. Do đó, cha mẹ cần chăm sóc răng sữa của trẻ thật cẩn thận. Khi bé mới mọc răng, chưa biết cách súc miệng, cha mẹ có thể cho bé uống nước sau ăn để tráng miệng. Dùng gạc quấn quanh ngón tay nhúng vào nước sạch để lau miệng, răng, lợi cả bên trong lẫn bên ngoài cho trẻ.

Trẻ nhỏ thường thích mút tay hoặc ngậm ti giả, trẻ sẽ không cho đồ chơi vào miệng hoặc ngủ ngon nên các bậc cha mẹ yên tâm và không chú ý nhưng trong thực tế, khi còn bé, nhìn bên ngoài xương hàm của trẻ giống như một khối liền với lợi và được mô mềm che phủ, thực ra bên trong có thể các xương hàm chưa ráp nối xong còn hở ở đường giữa. Đây chính là điểm yếu của xương. Khi trẻ mút tay hay ngậm ti giả động tác mút sẽ đẩy các xương hàm chưa liền thành một khối ra phía trước gây hô xương và có thể làm hô răng rất xấu.

Sau khi răng đã hình thành, việc dạy cho trẻ tự biết chăm sóc răng miệng là một việc làm cần thiết để phòng tránh các bệnh răng miệng, đặc biệt là sâu răng. Đánh răng kỹ hằng ngày: đánh răng sau bữa ăn hoặc sau khi ăn đồ ngọt. Ngay cả khi cho trẻ ăn đêm bằng sữa bột phải súc miệng bằng nước lọc nếu không trẻ sẽ bị sâu răng. Qua một đêm, lượng bột, đường trong miệng sẽ lên men và làm hư men răng.