Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh-duong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh-duong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Sôcôla đen- thực phẩm hàng đầu dành cho não bộ

suc khoe Sôcôla đen giúp cải thiện tâm trạng, bảo vệ não khỏi thương tổn, tăng trí nhớ và sự tập trung và giảm căng thẳng. Dưới đây là 9 tác dụng của sôcôla đen với não bộ mà bạn không thể bỏ qua.



Hiếm có thứ gì ngon tuyệt hảo mà lại tốt cho sức khỏe của bạn, nhưng sôcôla đen là một trong những thực phẩm vàng mà thiên nhiên mang đến cho bạn, có tác dụng tuyệt vời như vậy. Bạn sẽ luôn tìm thấy sôcôla đen trong tất cả các danh sách top thực phẩm tốt nhất cho não bộ và trí nhớ.

Hãy bỏ qua một bên những lồi đồn thổi xưa cũ về việc sôcôla khiến bạn béo phì, nổi đầy mụn hay chẳng tốt gì cho sức khỏe, bỏi vì dưới đây chính là 9 bằng chứng khoa học đã được kiểm chứng bởi rất nhiều nghiên cứu về lợi ích thực sự của sôcôla đen, đặc biệt là cho não bộ và trí nhớ.

Ăn sôcôla đen khiến bạn cảm thấy hạnh phúc hơn

Sôcôla đen thúc đẩy quá trình sản xuất hormone hạnh phúc là Endorphin. Hormone này gắn với thụ thể gây nghiện ở não đem đến cảm giác hưng phấn, giảm cảm giác đau và giảm các tác hại của stress. Sôcôla đen là thực phẩm dinh dưỡng giàu tryptophan hàng đầu, một acid amin là tiền thân của serotonin, chất dẫn truyền thần kinh của sự hạnh phúc và cảm xúc tích cực.


Sôcôla đen còn là thực phẩm tự nhiên chứa nhiều anandamide, một hợp chất tự nhiên được gọi là “phân tử hoan lạc”. Chất dẫn truyền này rất giống với THC (Tetrahydrocannabinol), chất hưng phấn thần kinh chính có trong thuốc phiện, nhưng anandamide lại không gây nghiện.

Sôcôla đen cũng chứa phenylethylamine, một hợp chất được gọi là “dược phẩm tình yêu” bởi khiến não rung động như đang yêu. Theobromine, một hợp chất được tìm thấy ở sôcôla gần với caffeine, chính là chất được xem là nguồn gốc khiến sôcôla có tính kích dục nhẹ, khiến con người cảm thấy thích thú và khoan khoái hơn.





Sôcôla đen cải thiện dòng máu chảy đến não

Các hợp chất có trong sôcôla đen tăng cường trí nhớ, kéo dài sự tập trung, tăng tốc độ phản ứng, và tăng các kỹ năng giải quyết vấn đề bằng cách tăng dòng máu chảy đến não.

Flavonoids trong sôcôla đen được chứng minh rằng có thể cải thiện dòng máu chảy tới não của trẻ em, người trẻ tuổi và thậm chí là cả người già.

Một nghiên cứu của Khoa Y, Trường Harvard, Hoa Kỳ, phát hiện ra rằng uống 2 cốc sôcôla nóng tăng dòng máu đến não trong vòng 2 tới 3 giờ. Sự tăng cường dòng chảy này cải thiện điểm số của bài kiểm tra tốc độ ghi nhớ lên đến 30%. Vì vậy, dùng sôcôla thường xuyên trong quá trình thi cử căng thẳng sẽ giúp bạn cải thiện trí nhớ một cách tự nhiên, giúp não mạnh mẽ và linh động hơn, góp phần không nhỏ vào việc có một kết quả thi cử hơn cho các thí sinh.

Đối với người già, sôcôla đen làm tăng cường dòng máu tới não, do vậy có thể hỗ trợ trí nhớ ngắn hạn và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ, chứng quên ở người cao tuổi do quá trình lão hóanão bộ và suy giảm nhận thức vì tuổi tác.

Sôcôla đen bảo vệ não khỏi sự tàn phá của gốc tự do

Não bộ của chúng ta sử dụng rất nhiều oxy, khoảng 20% tổng lượng tiêu thụ của cả cơ thể. Điều này đẩy não vào tình trạng nhạy cảm cao với các gốc tự do. Gốc tự do không được gắn với phân tử oxy sẽ tấn công tế bào theo cách tương tự như oxy tấn công kim loại, khiến nó bị rỉ sét. Nếu như bạn đã từng chứng kiến một miếng táo hay bơ được cắt và dần đổi sang màu nâu, thì có nghĩa là bạn đang được chứng kiến sự hoạt động của gốc tự do.

Nếp nhăn, chấm đồi mồi, và tác hại của ánh nắng trên da bạn là những dấu hiệu đánh dấu sự hiện hữu của gốc tự do. Qúa trình tương tự cũng sẽ diễn ra trong não. Chất chống oxi hóa bảo vệ não bộ bằng cách trung hòa gốc tự do và ngăn chặn sự lão hóa sớm của các tế bào não.

Bột cacao chứa nhiều chất chống oxi hóa hơn các “siêu thực phẩm” khác như các loại quả mọng, mà phổ biến nhất là quả việt quất và bột lựu. Khi thử nghiệm so sánh về tác dụng chống oxi hóa với cà phê và trà, bột cacao đứng trên trà xanh nhưng đứng sau cà phê. Điều này khẳng định một lần nữa rằng, sôcôla càng đen chứa càng nhiều cacao, do vậy càng bảo vệ cơ thể tốt hơn trước các gốc tự do.



Sôcôla đen cải thiện học tập, trí nhớ và tập trung

Flavanol trong cacao sẽ thâm nhập và tích trữ trong những vùng của não liên quan đến học tập và ghi nhớ, đặc biệt là vùng hải mã. Sôcôla có chứa flavanoid cải thiện điểm số của bài test nhận thức ở cả người trưởng thành và người cao tuổi.

Sôcôla cũng chứa caffeine, một chất kích thích trí não mà với liều lượng thấp sẽ tăng cường trí nhớ, cảm xúc và sự tập trung. Vậy lượng caffeine trong sôcôla đen so với cà phê và trà có gì khác nhau?

Thông thường, 100 gam sôcôla đen với hàm lượng 60% cacao chứa khoảng 30mg caffeine, t100 gam bột cacao chứa khoảng 44 mg.Trong khi đó, 1 ly trà xanh chứa 25mg caffeine và 1 ly cà phê xay lại chứa từ 64 đến 272 mg caffeine (tùy theo độ loãng/đặc khi pha).

Bạn có thể nhận ra rằng lượng caffeine ở một miếng sôcôla cỡ vừa cho một lần ăn, khoảng 1/3 thanh 100g, là tương đối thấp. Vì vậy gần như việc ăn sôcôla sẽ không khiến bạn căng thẳng hay khó ngủ ban đêm.

Sôcôla đen giúp giảm stress

Magie có hiệu quả trong việc giúp bạn thư giãn bởi nó được mệnh danh là “loại thuốc an thần hàng đầu”. Khoáng chất thiết yếu này giảm stress bằng cách kìm hãm sự giải phóng hormone stress là cortisol.

Thực đơn ăn của chúng ta thiếu hụt một lượng Magie lớn nhưng sôcôla đen lại chứa một lượng magie cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của bạn. Tiêu thụ nhiều Magie từ sôcôla cũng cải thiện trí nhớ, tập trung, cảm xúc, giấc ngủ và khả năng phục hồi sau stress.

Ăn sôcôla đen giúp kiểm soát sự thèm ăn

Sôcôla nhanh chóng đem lại cảm giác cực kỳ no nên bạn sẽ có thể ăn ít các loại thực phẩm khác hơn, mà không cảm thấy khó chịu. Ăn một ít sôcôla đen sẽ giảm cảm giác thèm tất cả các loại đồ ăn vặt khác – bao gồm cả các đồ ngọt, mặn và béo. Điều này đem đến cho bạn sự lựa chọn thực phẩm lành mạnh, cắt giảm lượng calo và giảm cân.

Có phải tất cả sự thỏa mãn đó là bởi thành phần thực vật đặc biệt của sôcôla? Hay đó chỉ là một tác động tâm lý tới tình yêu của chúng ta dành cho sôcôla?

Câu trả lời có vẻ khá thú vị, bởi dường như việc thỏa mãn cảm giác thèm ăn là do những cảm giác khi ăn sôcôla mang lại, mà không phải là do các thành phần có lợi trong sôcôla. Khi các nhà khoa học đưa các thành phần có lợi trong sôcôla vào một viên thuốc thì nó lại không đem lại hiệu quả tương tự.

Tiêu thụ sôcôla đen có thể bảo vệ não bạn cả cuộc đời

Có rất nhiều những phát hiện thú vị xung quanh việc sử dụng sôcôla trong chữa trị các bệnh lý liên quan đến não, như đột quỵ và suy giảm trí nhớ. Sức mạnh của các chất oxy hóa tìm thấy trong sôcôla đen giảm nguy cơ suy giảm trí nhớ. Flavanol có trong sôcôla giúp tăng cường nhận thức ở người cao tuổi được chẩn đoán là mất nhận thức nhẹ (MCI).

Sôcôla đen cũng giảm sự kháng insulin. Điều này đặc biệt đáng chú ý bởi rất nhiều chuyên gia cho rằng Alzheimer là bệnh do kháng insulin – một dạng của tiểu đường ở não. Khi tế bào não kháng insulin, chúng không tiếp nhận đủ lượng glucose, dẫn đến chết tế bào. Việc tiêu thụ các thực phẩm giàu flavonoids như cacao có thể ngăn ngừa sự suy giảm chức năng của não liên quan đến tuổi tác.

Sôcôla đen hỗ trợ hệ vi khuẩn đường ruột, hỗ trợ não

Một trong những lợi ích sức khỏe không được biết đến rộng rãi đó là sôcôla làm tăng cường lợi khuẩn ở hệ đường ruột. Đây thực sự là một tin vui đối với não bộ!

Lactobacilli và Bifidobacteria là hai lợi khuẩn phổ biến nhất ở ruột và được tìm thấy ở những thuốc lợi khuẩn, đóng vai trò như những chất chống oxy hóa, bảo vệ não khỏi sự phá hoại của gốc tự do. Sôcôla hoạt động như một loại prebiotic, giữ nồng độ lợi khuẩn ở mức cao và vi khuẩn có hại ở mức kiểm soát.

Một sự dư thừa lượng vi khuẩn gây hại có thể làm giảm nồng độ tác nhân chuyển hóa dưỡng chất thần kinh của não. Đây là hợp chất hóa học quan trọng của não bộ cần thiết cho việc giữ cho tế bào não tồn tại khỏe mạnh và kích thích sự hình thành tế bào não mới.


Ăn sôcôla đen có thể khiến bạn thông minh hơn

Bạn đã được chứng kiến việc ăn sôcôla có thể cải thiện khả năng học hỏi, tập trung và ghi nhớ? Thậm chí, một nghiên cứu báo cáo rằng một quốc gia tiêu thụ càng nhiều sôcôla, thì càng có nhiều người đoạt giải Nobel! Điều này tưởng như chỉ là một câu chuyện đùa, nhưng đây là nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí New England Journal of Medicine, một tạp chi uy tín trong giới y khoa

Nhưng nghiêm túc thì việc ăn sôcôla được chứng minh có tác dụng bảo vệ thần kinh và tăng cường tính linh hoạt của não bộ - một đặc điểm có liên quan mật thiết đến sự tăng cường trí thông minh.

Tại sao các chuyên gia khuyên bạn nên mua sôcôla đen?

Bạn sẽ quan tâm đến lý do thật sự khiến sôcôla đen tốt cho não hơn sôcôla sữa và bạn nên chọn sử dụng sôcôla đen. Và đây là câu trả lời cho bạn.

So với sôcôla sữa, sôcôla đen chứa nhiều thành phần tốt cho bạn hơn, đặc biệt là flavonoids và chất chống oxi hóa, và ít chứa đường hơn nhiều, một thực phẩm hiện nay được coi là gây nghiện như ma túy và có khả năng làm hủy hoại não bộ. Đã có những giả thuyết cho rằng, sôcôla sữa có thể cản trở sự hấp thụ flavonoid, và điều này đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu.

Mặc dù vậy, có dễ dàng ăn sôcôla đen?

Con số kiểu như 70% cacao ở trên một thanh sôcôla chỉ ra tổng phần trăm của mọi thứ chiết xuất từ hạt cacao – sôcôla lỏng, bơ cacao và bột cacao. Thông thường, 70% là một mức tốt để bắt đầu nếu bạn muốn đạt được tất cả lợi ích về sức khỏe sôcôla đen mang lại. Nếu như bạn không thích hoặc không chịu được độ đắng của 70%, hãy bắt đầu trong khoảng 50% và nâng dần mức độ lên đến 70% và cao hơn nữa.

Giống các thứ tốt trong cuộc sống, ăn sôcôla càng đen có thể là một thử thách. Bạn biết rằng sôcôla đen thật nhiều, thật nhiều lợi ích cho sức khỏe nhưng không dễ dàng gì thay thế vị ngọt ngào của sôcôla sữa bằng vị đắng của sôcôla đen. Bởi vậy, nếu bạn không thể ăn sô-cô-la đen chỉ vì vị đắng, hãy thử ăn hạt cacao đã bóc vỏ, ít chế biến, không chứa đường, không thêm muối và bạn sẽ bất ngờ bởi nó có vị của các loại hạt nhiều hơn là vị đắng.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

Chế biến trứng kiểu này không khác gì ăn thuốc độc

[suc khoe]Chế biến trứng kiểu này không khác gì ăn thuốc độc mà ít ai có thể ngờ tới, các bạn cần chú ý ngay!



Trứng là một trong những siêu thực phẩm, chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể như vitamin, khoáng chất và một số chất quan trọng như sắt, canxi…. Đặc biệt, trong trứng có nhiều protein. Protein là dưỡng chất cần thiết để cơ thể hồi phục và phát triển bình thường.

Ăn trứng đã chín để quá lâu

Trứng đã nấu chín hay luộc chín để quá lâu, khi ăn vào sẽ không có lợi cho sức khỏe của bạn bởi một số dưỡng chất có trong trứng sẽ bị giảm đi đáng kể. Ngoài ra, nếu bạn để trứng ở nhiệt trên 10 độ C, trứng cũng sẽ dễ bị vi khuẩn xâm nhập, nhất là trứng chưa luộc chín kỹ (tức là trứng luộc lòng đào). Do đó, nếu đã nấu trứng thì nên thưởng thức ngay, không nên để quá 12h. Nếu trứng luộc cất trong tủ lạnh, lấy ra nên luộc lại trước khi ăn để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.

Thêm quá nhiều chất lỏng

Thêm các dung dịch lỏng như sữa, kem hay thậm chí là nước sẽ giúp trứng tơi xốp và dễ xử lý hơn là suy nghĩ của không ít người. Tuy vậy, trên thực tế, bất cứ loại chất nào thêm vào trong quá trình chế biến đều khiến trứng trở nên dai hơn.

David Strike, bếp trưởng tại nhà hàng Lyeiy (Trung Quốc) cho biết, khi chất lỏng gặp nhiệt độ cao, chúng sẽ bay hơi và để lại trứng của bạn với độ dính khó chịu. Tập luyện cách đánh trứng đều tay là cách duy nhất giúp món trứng của bạn tơi xốp và ngon hơn cả.


Trộn trứng cùng rau

Không ai có thể phủ nhận mức độ quan trọng của rau với sức khỏe. Tuy nhiên, kết hợp rau và trứng lại không phải ý tưởng hay. Nước trong rau tươi sẽ làm món trứng của bạn ngấm nước và khó để chế biến hơn.

Nhà nghiên cứu y sinh Stayden Luccy tại viện y khoa Beanleau (Đức) cho biết: Một số loại thực phẩm đặc biệt như chè sở hữu tính kiềm và chua. Khi kết hợp chúng với sắt trong trứng sẽ tạo thành hợp chất gây rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng. Đậu tương cũng khiến món trứng của bạn không hoàn hảo bởi men phân giải protein trong loại hạt này khiến cơ thể bạn không hấp thụ được chất dinh dưỡng. Bạn chỉ nên chế biến trứng với các loại gia vị cơ bản như hành hay thì là.



Ăn trứng lòng đào

Ăn trứng lòng đào được cho là món ăn khoái khẩu của rất nhiều người, tuy nhiên nó lại không tốt cho sức khỏe của bạn. Vì khi trứng chưa chín kỹ thì lượng dưỡng chất trong trứng gà chưa được chuyển hóa sang dạng dễ hấp thu đối với cơ thể người, do đó nếu ăn trứng lòng đào sẽ chỉ hấp thu được 30 – 50 % dưỡng chất trong quả trứng mà thôi.

Ngoài ra chưa kể đến nguy cơ nhiễm bệnh có trong trứng gà. Bởi thực phẩm sống là nguồn lây bệnh chính cho con người, nếu chúng ta chưa chế biến kỹ cũng đồng nghĩa với việc sử dụng thực phẩm sống, điều này không tốt cho sức khỏe của con người.

5 thói quen tai hại của bố mẹ dễ khiến trẻ từ khỏe mạnh trở thành điếc

[me va be]Ngày này, có rất nhiều trẻ em sinh ra khỏe mạnh, phát triển bình thường nhưng lại bị điếc do chính thói quen của bố mẹ trong việc chăm sóc trẻ hàng ngày. Vậy đó là những thói quen gì?




Cho trẻ nghe nhạc quá lớn





Thính giác trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn chỉnh và rất dễ tổn thương bởi âm thanh lớn. Chính vì vậy, việc mẹ mở nhạc quá lớn hoặc cho con đến những nơi mở nhạc ổn ào như tiệc, hát karaoke đều có thể khiến tai trẻ bị ảnh hưởng. Ngoài ra, ngay cả khi trẻ còn trong bụng mẹ, nếu bố mẹ cho con nghẹ nhạc như áp tai nghe vào bụng trẻ, mở loa quá lớn cũng có thể ảnh hưởng tới thính giác của con.

Tốt nhất bố mẹ chỉ nên cho trẻ nghe nhạc 30 phút/ngày, âm lượng vừa phải và nghe bằng loa ngoài, hạn chế nghe nhạc ồn ào nơi đông người để bảo vệ thính giác của con.


Véo má trẻ

Trẻ sơ sinh nào cũng rất dễ thương và có hai má phúng phính. Đây là điều ai cũng yêu và muốn bẹo má trẻ một cái cho "bõ ghét". Tuy nhiên ít mẹ biết rằng, việc véo má con thường xuyên với tần suất nhiều và mạnh lại có thể khiến con có nguy cơ bị điếc rất cao. Nguyên nhân là do trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn thiện, các chức năng cơ quan còn non yếu rất dễ bị tổn thương. Đặc biệt, khi vẹo má sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển tai, gây tổn thương ống tai, có thể dẫn tới thủng màng nhĩ non nớt của trẻ.


Cho trẻ nằm ngửa bú bình

Đây là thói quen của rất nhiều mẹ khi cho con bú sữa bình. Hầu hết các mẹ đều cho trẻ bú nằm, đặc biệt khi con đang trong cơn buồn ngủ hoặc cho bú sữa giữa cữ đêm. Việc bú nằm sẽ nhàn cho mẹ nhưng cực hại cho con, vì khi bú bình nằm, sữa có thể vô tình chảy vào ống tai và gây viêm ống tai, gây viêm tai giữa và dẫn tới điếc nếu điều trị không kịp thời.

Vì vậy, với trẻ bú bình mẹ, nếu mẹ cho bé bú nằm thì nên kê cao gối cho trẻ để tránh sữa tràn vào tai.


Cho trẻ xì mũi quá mạnh

Việc để trẻ xì mũi sai cách và quá mạnh cũng có thể khiến trẻ bị điếc. Thông thường, bố mẹ rất ít khi dạy trẻ xì mũi đúng cách mà sẽ để con tự làm theo bản năng. Trong khi đó, trẻ nhỏ chưa hiểu chuyện, nói "xì mũi" thì sẽ xì thật nhanh và mạnh, thậm chí không xì hết nước mũi ra mà còn nuốt chúng.

Khi dạy trẻ xì mũi, bố mẹ nên dạy trẻ xì từng bên nhẹ nhàng, bên còn lại dùng tay bịt lỗ mũi lại. Như vậy, nước mũi dễ dàng ra ngoài mà không ảnh hưởng tới tai.


Thường xuyên ngoái tai cho trẻ

Nhiều bố mẹ lại có thói quen lấy ráy tai thường xuyên cho con vì sợ tai con bị bẩn. Tuy nhiên, lấy ráy tai thường xuyên sẽ vô tình khiến tai trẻ mất đi sự bảo vệ khỏi bụi bẩn và vi khuẩn. Ngoài ra, bố mẹ cũng nên hiểu rằng trong quá trình phát triển và hoàn thiện ống tai, ráy tai của trẻ sẽ tự động được đẩy ra ngoài. Trừ một số trường hợp ráy tai sẽ không được đẩy ra ngoài, bám chặt vào ống tai thì bố mẹ mới nên ngoáy tai cho trẻ.



Khi ngoáy tai cho con, bố mẹ tuyệt đối không cố gắng đưa tăm bông sâu vào tai vì điều này có thể vô tình đẩy ráy tai vào sâu hơn, đưa vi khuẩn vào tai, làm trầy xước ống tai, chọc vào màng nhĩ... Tất cả những điều này đều có nguy cơ gây điếc tai cho trẻ.

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

Ăn rau muống kiểu này là đang tự hại tất cả mọi người trong nhà

Ăn rau muống kiểu này là đang tự hại tất cả mọi người trong nhà - các bạn cần tránh ngay để đảm bảo an toàn cho suc khoe



Rau muống có nhiều cách chế biến: ăn như rau sống, luộc, xào, nộm. Trong các cách chế biến thì rau muống ăn sống, làm nộm giữ được nhiều chất dinh dưỡng hơn cả.Về giá trị dinh dưỡng của rau muống trong 100 gam sống sạch cung cấp 1g culluloza, 100 mg can xi, 1.4mg sắt, 15mg magie, 100mg đồng, 23mg vitamin C, 194 µg folat, 482µg vitamin K, 5597µg beta-caroten,..



Ăn rau muống khi đang bị thương

Nếu bạn đang uống thuốc Đông y, ăn rau muống sẽ làm giã thuốc, nhất là khi trong thuốc có vị độc cần thiết để chữa bệnh (độc trị độc) và sẽ làm giảm hiệu quả điều trị.

Đặc biệt, những ai đang bị vết thương trên da cũng không nên ăn rau muống bởi chúng kích thích tăng sinh tế bào gây sẹo lồi gây xấu da.

Ăn rau muống bẩn

Tình trạng rau muống trồng ở các ao hồ bị ô nhiễm sẽ là môi trường cho giun sán ký sinh ẩn náu. Ngoài ra, thuốc trừ sâu được phun vào ruộng rau mùa này khá lớn để tránh sâu bọ nên rau muống nước sẽ bị nhiễm độc nặng.

Không nên ăn rau muống chưa chín

Khi chế biến rau muống mà chưa chín sẽ khiến cho cơ thể đau bụng, di ứng và rất đầy bụng không thể tiêu hóa. Là do rau muống chứa ký sinh trùng, sán lá trong ruột lớn. Khi sán đi vào cơ thể con người sẽ gây hại khôn lường gây dị ứng, tiêu chảy và đau bụng. Trường hợp nguy hiểm hơn là sán lá sẽ đi vào cơ thể như đi vào túi mật, xơ gan, vỡ gan và gây suy gan ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Tuyệt đối không ăn rau muống cùng với sữa

Khi ăn rau muống tuyệt đối không nên ăn cùng với sữa. Bởi vì trong sữa hàm lượng canxi cao và trong rau muống lại có thành phần rất lớn ảnh hưởng đến hấp thụ canxi, thêm vào đó Rau muống chứa đạm gây đau bụng cho người ăn.

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

Hại sức khỏe vì ăn khoai tây sai cách


1. Khoai tây chiên tăng huyết áp

Không chỉ là khoai tây chiên, khoai tây dưới mọi hình thức chế biến có thể đặt bạn vào nguy cơ của tăng huyết áp. Theo nghiên cứu từ Bệnh viện Phụ nữ Brigham và Trường Y tế công cộng Harvard T.H. 8055

Không có gì ngạc nhiên với thông tin khoai tây chiên có hại cho suc khoe của bạn, nhưng nghiên cứu không dừng lại ở đó, những thông tin nghiên cứu cho thấy tiêu thụ khoai tây còn liên quan với bệnh tăng huyết áp.





Bằng cách kiểm tra dữ liệu y tế từ khoảng 187.500 người tham gia trên ba nghiên cứu dài hạn, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người ăn bốn hoặc nhiều hơn khẩu phần khoai tây mỗi tuần có thể có nguy cơ cao hơn 11 % của tăng huyết áp so với những người hiếm khi hoặc không bao giờ ăn khoai tây. Con số này leo lên đến 17 % khi khoai tây được lựa chọn là khoai tây chiên kiểu Pháp.

2. Mầm khoai tây gây ngộ độc

Trong mầm khoai tây có chứa chất solanine, sau khi ăn mầm có thể sẽ xuất hiện các biểu hiện như ngứa và nóng rát ở cổ họng, có cảm giác nóng rát hoặc đau vùng thượng vị, có thể gây nôn mửa và tiêu chảy. Ngoài ra, nặng hơn có thể xuất hiện các triệu chứng đau đầu chóng mặt, rồi loạn ý thức nhẹ, khó thở.

3. Khoai tây + trứng gà = béo phì

Khoai tây và trứng gà khi kết hợp với nhau trong một món ăn cũng dễ làm tăng hàm lượng cholesterol xấu gây ra béo phì, mà béo phì là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch chuyển hóa.

4. Không ăn khoai tây cả vỏ hay khoai đông lạnh, để lâu

Trong ẩm thực với khoai tây chú ý không nên ăn vỏ khoai tây, không nên ăn khoai tây đã để lâu, không nên ăn khoai tây để đông lạnh vì dễ gây độc đối với cơ thể con người.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Vi chất dinh dưỡng cho trẻ: Cần ít nhưng phải đủ

[Suc khoe y te]Có thể khẳng định rằng vi chất dinh dưỡng có rất nhiều vai trò khác nhau đối với cơ thể, giúp cho cơ thể có thể phát triển trí tuệ, thể chất, giúp cho cơ thể khỏe mạnh chống đỡ bệnh tật. Đặc biệt vi chất dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng trong tăng trưởng về chiều cao và cân nặng ở trẻ em.


Tuy nhiên, cơ thể con người lại không tự tổng hợp được hoặc chỉ tổng hợp được lượng rất nhỏ không đủ cho các hoạt động đó. Do đó mà con người, đặc biệt là trẻ em phải bổ sung vi chất dinh dưỡng thông qua thực phẩm hàng ngày.
Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, tính bằng miligam hoặc nhỏ hơn, nhưng có vai trò rất quan trọng trong các quá trình sinh học của cơ thể, khi thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng cho cơ thể, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

Vi chất dinh dưỡng hết sức cần thiết là do vi chất dinh dưỡng là thành phần chủ yếu để tạo ra các hormon, các dịch tiêu hóa. Bên cạnh đó, chúng tham gia vào việc xây dựng nên các tế bào, các mô; tham gia vào các hoạt động như hô hấp, chuyển hóa, bài tiết của tế bào, xây dựng nên hệ thống miễn dịch của cơ thể và tham gia vào nhiều cơ chế hoạt động của nhiều cơ quan trong cơ thể. Ngoài ra, vi chất dinh dưỡng có tác dụng duy trì sự cân bằng của hệ thống nội môi, giúp phục hồi các tế bào, các mô bị tổn thương….

PGS.TS Lê Danh Tuyên – Viện trưởng Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế) cho biết: “Thiếu vi chất dinh dưỡng bao gồm thiếu vitamin A, iod, sắt, kẽm là các vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nước ta ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần và thể lực của trẻ em, đồng thời ảnh hưởng tới năng suất lao động của người Việt Nam và nhiều mặt kinh tế – xã hội”.

Việt Nam hiện có dân số hơn 90 triệu người và ước tính có khoảng 7,1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng năm 2012 cho thấy, chế độ ăn điển hình của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không cung cấp đủ năng lượng, chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng cho trẻ để có sự tăng trưởng và phát triển tối ưu. Kết quả từ cuộc Điều tra dinh dưỡng quốc gia năm 2010 cho thấy có 9,1% trẻ em bị thiếu máu; 12,9% có tình trạng thiếu sắt và 51,9% thiếu kẽm. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi là 25,9%.

Thiếu vi chất dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân khiến trẻ dễ bị còi xương (Ảnh: Internet)

Theo Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia Lê Bạch Mai: “Giải pháp để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng bao gồm các tiếp cận dựa vào thực phẩm, tăng cường vi chất vào thực phẩm và bổ sung vi chất dinh dưỡng. Đặc biệt, công tác truyền thông giáo dục đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng trong phòng chống các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng, đa dạng bữa ăn, sử dụng các thực phẩm giàu vi chất. Các bà mẹ nên cho trẻ bú sớm, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và chú ý sử dụng các thực phẩm có bổ sung vi chất dinh dưỡng”.

Nhu cầu những vi chất dinh dưỡng thường rất nhỏ nhưng rất cần cho sức khỏe, sự phát triển tầm vóc và trí thông minh. Tuy nhiên chúng dễ bị thiếu hụt trong chế độ ăn. Các nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng không chỉ là chậm lớn, thấp bé, nhẹ cân mà luôn đi kèm với tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu sắt và thiếu Iod. Điển hình như:

Vitamin A: Là loại vitamin tan trong dầu cần thiết cho quá trình nhìn, phát triển xương, sinh sản, sự phân bào, sự sao chép gene. Vitamin A còn giúp điều chỉnh hoạt động của hệ miễn dịch bằng cách tạo bạch cầu chống lại vi trùng và virus gây bệnh. Thiếu vitamin A trẻ sẽ chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng và dễ mắc các bệnh: sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp… Hậu quả nghiêm trọng nhất của thiếu vitamin A là quáng gà, khô mắt, có thể dẫn đến mù lòa.

Iod: Là vi chất dinh dưỡng rất cần cho sự tăng trưởng và hoạt động trí não mà cơ thể chỉ cần với một lượng rất nhỏ. Thế nhưng nếu thiếu thì tác hại vô cùng. Chức năng quan trọng nhất của iod là tham gia tạo hormone giáp T3 (Triiodothyronine) và 4 (thyroxine). Đây là những hormone rất cần cho sự phát triển bình thường của não, làm tăng quá trình biệt hóa tế bào não, tham gia vào chức năng của não bộ. Bên cạnh chức năng điều hòa chuyển hóa cơ thể, hormon giáp còn tham gia trong việc chuyển đổi beta-carotene thành vitamin A, tổng hợp protein, hấp thu chất bột đường ở ruột non.

Nên bổ sung thêm vi chất dinh dưỡng bằng các sản phẩm thực phẩm chức năng (Ảnh: Internet)

Nếu thiếu iod dễ dẫn đến thiếu hormone gây ra nhiều rối loạn khác nhau, gọi chung là các rối loạn do thiếu iod. Thiếu iod ở phụ nữ trong thời gian mang thai có thể gây sảy thai, thai chết lưu, đẻ non, mẹ thiếu iod nặng, trẻ sinh ra có thể bị đần độn do tổn thương não vĩnh viễn. Thiếu iod liên tục ở trẻ em và thanh thiếu niên, sẽ gây giảm khả năng trí tuệ, giảm chỉ số thông minh, học hành kém, lưu ban, bỏ lớp, kể cả chậm phát triển thể chất, suy dinh dưỡng, lùn, kém hoạt động…

Sắt: Là một vi chất quan trọng tham gia trong quá trình tạo máu và một phần cấu trúc của bộ não. Sắt trong các hemoglobin và myoglobin có thể gắn với oxy phân tử rồi chuyển chúng vào trong máu và dự trữ ở trong cơ. Hemoglobin có trong tế bào hồng cầu và làm hồng cầu có màu đỏ. Myoglobin chỉ có ở cơ vân, có tác dụng như là nơi dự trữ oxy, chúng kết hợp với các chất dinh dưỡng để giải phóng năng lượng cho hoạt động cơ bắp.

Thiếu máu do thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng thường hay gặp nhất, phụ nữ mang thai, phụ nữ từ 15 – 49 tuổi, đặc biệt là các em gái tuổi dậy thì, là những đối tượng thường bị đe dọa thiếu máu dinh dưỡng. Đối với trẻ em thiếu sắt làm chậm lớn, suy dinh dưỡng, kém thông minh, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: viêm họng, viêm phổi, tiêu chảy…; Đối với phụ nữ có thai thiếu sắt làm chậm phát triển bào thai, dễ bị đẻ non hay đẻ con thiếu cân, tăng tỷ lệ tử vong của mẹ và con; Đối với thanh thiếu niên và người lao động làm giảm thể lực, giảm khả năng học tập, giảm sự tập trung, chú ý, tăng rủi ro khi lao động, giảm sức đề kháng, giảm năng suất lao động.

Đa dạng hóa bữa ăn hàng ngày để cung cấp đủ vi chất dinh dưỡng (Ảnh: Internet)

Kẽm: Là vi chất cần thiết để tổng hợp enzyme giúp chuyển retinol thành retinaldehyde trong ruột và các tổ chức khác (kể cả võng mạc mắt). Kẽm còn tham gia vào quá trình tổng hợp và điều hòa protein vận chuyển vitamin A.

Thiếu kẽm có thể dẫn đến một số rối loạn tiêu hóa, chuyển hóa, thần kinh, đặc biệt là các enzyme cần thiết cho sự tổng hợp protein, acid nucleic cũng như sự tổng hợp bài tiết của nhiều hormon tăng trưởng quan trọng khác. Thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai sẽ làm giảm cân nặng và chiều cao trẻ sơ sinh. Trẻ em thiếu kẽm sẽ dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn, chậm phát triển chiều cao, rối loạn phát triển xương, chậm dậy thì, giảm chức năng sinh dục.

Để phòng ngừa thiếu vi chất dinh dưỡng chúng ta cần phải chú ý đến việc đa dạng hóa bữa ăn trong gia đình, lựa chọn thực phẩm giàu dinh dưỡng, ăn đủ nhu cầu năng lượng, ăn đủ rau và trái cây tươi, tăng cường ăn rau xanh đậm và củ quả vàng đậm, thực phẩm nguồn gốc động vật và hải sản chứa nhiều kẽm, thường xuyên dùng muối Iod trong ăn uống và chế biến thức ăn.

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016

6 loại thực phẩm không tốt cho sức khoẻ của bà bầu và thai nhi

Chế độ ăn uống ảnh hưởng rất quan trọng đối với suc khoe của bà bầu cũng như sự phát triển của thai nhi. Bên cạnh việc chọn những loại thực phẩm dinh dưỡng, các mẹ cần tránh ăn những loại thực phẩm dưới đây.



Nấm

Nấm là một trong những loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, rất tốt cho sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu ăn phải nấm độc thì bà bầu sẽ bị đau đầu, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, trường hợp nặng có thể dẫn tới mê, thậm chí tử vong. Chính vì vậy, các mẹ chỉ nên ăn các loại nấm tự nhiên, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.



Cóc

Thai phụ tuyệt đối trong nên ăn cóc vì trong cóc có chứa các chất độc hại như: bufogin, bufidin, bufonin gây hại đến sức khoẻ của cả mẹ và bé. Thường các chết này thường có nhiều trong gan, trứng, phủ tạng, trong nhựa cóc, các tuyến sau 2 mắt, lưng, bụng cóc.


Dưa muối

Dưa muối là món ăn ngon, kích thích vị giác, tạo cảm giác ngon miệng hơn khi ăn. Tuy nhiên, các vi sinh vật trong dưa muối sẽ chuyển hóa nitrat trong các nguyên liệu thành nitric, làm hàm lượng nitric tăng cao, độ pH giảm dần (có nghĩa là độ chua tăng dần lên). Nếu bà bầu ăn phải sẽ gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của cả mẹ và bé.


Khoai tây mọc mầm

Khoai tây mọc mầm sẽ sản sinh ra một loại độ tố có khả năng tích trữ lâu ngày ở gan, đến khi đủ số lượng có thể gây tình trạng ung thư tế bào gan. Những củ khoai tây có chứa Solanin là những củ có lớp vỏ ngoài màu vàng ánh xanh lục.


Giá đỗ không có rễ

Giá đỗ không có rễ là do trong quá trình sản xuất, một số cá nhân đã ứng dụng tác dụng của thuoc diệt cỏ để phát triển mầm đậu không có gốc. Đây là loại thuốc cực kỳ độc, có thể gây ung thư.


Khoai mì

Trong khoai mì có chứa nhiều axit cyanhydric gây rối loạn tiêu hóa, nặng hơn nữa là ngộ độc thức ăn. Các bà mẹ không nên ăn khoai mì có vị đắng. Khi đun nấu, nên gọt vỏ sắn thật sạch, ngâm trong nước ít nhất 1 giờ, trong khi luộc không được đậy nắp nồi để các độc tố bay hơi bớt. 

Để giúp thanh lọc cơ thể và giải độc tố dư thừa bà bầu nên ăn các loại thực phẩm như: rong biển, chuối, dưa hấu, cà chua, dâu tây, gạo lứt…

Chúc mẹ và bé luôn khoẻ mạnh!a

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

5 món ăn trị bệnh còi xương cho trẻ

Còi xương là loạn dưỡng xương do cơ thể thiếu hụt vitamin D, làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, chuyển hóa canxi và phốt pho. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi.

Còi xương là loạn dưỡng xương do cơ thể thiếu hụt vitamin D, làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, chuyển hóa canxi và phốt pho. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu gây còi xương ở trẻ chính là do thiếu ánh sáng mặt trời, trẻ sinh thiếu cân, sinh non, trẻ không được bú sữa mẹ, trẻ có hội chứng kém hấp thu, trẻ suy dinh dưỡng...

Trẻ thường có biểu hiện quấy khóc, ngủ không yên giấc, giật mình, ra nhiều mồ hôi trộm, rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, răng mọc chậm, chậm biết lẫy, biết bò, đi, đứng... Trường hợp nặng, trẻ bị biến đổi ở xương gây thóp rộng, có các bướu trán, lồng ngực biến dạng, có chuỗi hạt sườn, các đầu xương cổ tay, cổ chân bè ra, chân vòng kiềng, chữ bát,... Sau đây xin giới thiệu một số món ăn có tác dụng hỗ trợ điều trị còi xương để các bà mẹ có thể chế biến cho con.




Bột chân cua: chân cua 300g, hạt sen 50g, đậu xanh 50g. Chọn lấy chân của những con cua khỏe, rửa sạch sấy khô tán thành một mịn. Hạt sen, đậu xanh đều tán thành bột. Các thứ trên trộn đều với nhau. Mỗi lần ăn dùng 1 thìa cà phê bột chân cua hòa vào nước cơm đặc hoặc nước cháo loãng, có thể thêm đường hay muối để ăn cho vừa miệng. Ngày ăn 2 lần, cần ăn liền 15 - 20 ngày.

Cháo lòng đỏ trứng gà: lòng đỏ trứng gà 2 cái, gạo ngon 50g, bột gia vị vừa đủ. Trứng gà luộc chín, bỏ lòng trắng, lấy lòng đỏ, sấy khô tán bột. Gạo rang vàng tán thành bột. Cả hai thứ trộn đều, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ đun cho cháo sôi kỹ, thêm bột gia vị vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn lúc đói ngày 1 lần. Cần ăn trong khoảng 20 - 30 ngày.




Cháo tôm: tôm 150g, gạo 50g, bột gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, bóc vỏ và càng để riêng. Thịt tôm giã thật nhỏ. Vỏ, càng tôm sấy khô tán bột mịn. Gạo xay thành bột. Tất cả trộn đều, thêm bột gia vị, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ nấu thành cháo. Khi cháo chín cho bột ngọt quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần lúc đói, ăn liền 1 tháng.

Cháo sụn lợn: xương sụn lợn 100g, gạo 50g, bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Xương sụn lợn rửa sạch, xay nhỏ như bột, ướp bột gia vị xào chín. Gạo xay thành bột. Xương sụn lợn cho vào nồi thêm 150ml nước đun trên lửa nhỏ, khi sụn nhừ cho bột gạo vào quấy đều, đun tiếp tới khi cháo chín cho bột ngọt. Trẻ ăn ngày 2 lần lúc đói. Cần ăn liền 15 - 20 ngày.

Cháo cá quả: cá quả 1 con (300g), rau cải xoong 30g, gạo 50g, bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Chọn loại cá quả đầu bẹt, vảy ở bụng trắng, lưng đen, làm sạch cá bỏ nội tạng, đem hấp cách thủy cho chín, gỡ lấy thịt nạc ướp bột gia vị, xương cá giã nhỏ lọc lấy 200ml nước. Gạo xay thành bột, rau cải xoong rửa sạch thái thật nhỏ (có thể giã nhỏ rồi vắt lấy nước cho vào cháo). Cho bột gạo vào nước cá, đun lửa nhỏ, cháo chín cho rau cải xoong, thịt cá, bột ngọt vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 2 lần, cần ăn 20 - 30 ngày. Ăn cách ngày.




Cách phòng ngừa còi xương cho trẻ
Để phòng bị còi xương ở trẻ, trong thời gian mang thai, người mẹ nên ăn các thực phẩm giàu canxi. Nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Hằng ngày cho trẻ tắm nắng khoảng 10 - 15 phút vào buổi sáng. Tăng cường cho trẻ ăn các món giàu canxi, phốt pho như trứng, cá, tôm, cua, ngao, sò, ốc và sữa, pho mát. Nếu cần, nên bổ sung vitamin D, canxi cho trẻ dưới dạng dược phẩm theo chỉ định của bác sĩ. Nhà ở của trẻ phải có đủ ánh sáng. Nếu trẻ bị mắc các bệnh ở đường tiêu hóa, hô hấp... cần được chữa trị sớm.

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Những thực phẩm bổ sung chất điện giải cho cơ thể

[Suc khoe]Theo các chuyên gia, cách tốt nhất để bù đắp cho lượng chất điện giải cần thiết để duy trì cân bằng thể dịch trong cơ thể và hỗ trợ hoạt động của cơ và chức năng thần kinh đó là từ thực phẩm tự nhiên. Thực phẩm là nguồn rất giàu các chất điện giải cũng như các vitamin và các hợp chất quan trọng khác.




Các chất điện giải như magiê, canxi, kali, natri, clo, hydro photphat và hydro bicarbonat… duy trì sự cân bằng chất lỏng cho tế bào và các mô trong cơ thể. Các chất điện giải cần được bổ sung trong các bệnh lý như tiêu chảy, nôn, kiệt sức do nhiệt độ cao, mất mồ hôi quá mức hay các vận động viên tập luyện với cường độ cao. Dưới đây là danh sách các thực phẩm bạn có thể sử dụng để cung cấp đủ chất điện giải cho cơ thể.

Hầu hết những người tập luyện thể dục thể thao thường có xu hướng uống rất nhiều nước sau khi luyện tập, các vận động viên tập luyện với cường độ cao như marathon hay tennis còn phải tích cực bù đắp cho lượng điện giải bị mất đi qua đường mồ hôi. Thông thường, các sản phẩm bổ sung điện giải vẫn được ưa chuộng nhất đó là đồ uống thể thao và bánh dinh dưỡng, tuy nhiên chúng lại thường chứa quá nhiều đường và năng lượng.

Dưới đây là những thực phẩm giúp bạn bổ sung đủ các chất điện giải sau quãng thời gian luyện tập vất vả.

Natri

Nhiều người cho rằng cung cấp nhiều natri không hề tốt cho cơ thể, tuy nhiên đây lại là chất điện giải bị hao hụt nhiều nhất khi chúng ta vã mồ hôi. Muối giúp cơ thể giữ nước, và phòng tránh mất nước trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là bạn phải bổ sung quá nhiều chất này.

Có thể dễ dàng cung cấp cho cơ thể khoảng 800 mg natri đã bị mất qua đường mồ hôi sau 1 giờ luyện tập vất vả bằng cách thưởng thức một bữa ăn nhẹ gồm sô cô la sữa và bánh mì tròn với bơ đậu phộng. Các vận động viên có thể lựa chọn những món ăn có thêm muối như súp trước khi luyện tập để cung cấp đủ cho cơ thể lượng nước cần thiết và duy trì đủ nước trong quá trình luyện tập.


Clorid

Đây là ion thường đi kèm với natri và có mặt trong muối ăn và những thực phẩm chế biến sẵn như thịt nguội, các loại gia vị, súp đóng hộp và khoai tây chiên. Giống như natri, một chế độ ăn điển hình của người Mỹ thường không bị thiếu clorid.

Tuy nhiên, khoáng chất vốn cần thiết để duy trì cân bằng dịch thể, thể tích máu, áp suất máu và mức độ pH của cơ thể này cũng thường bị mất rất nhiều qua đường mồ hôi. Do vậy, bạn có thể lựa chọn một số thực phẩm toàn bộ để bổ sung đủ clorid cho cơ thể như dầu olive, rong biển, lúa mạch đen, cà chua, rau diếp xoăn và cần tây.



Kali

Nếu bạn đang phân vân không biết nên lựa chọn loại thực phẩm nào để mang theo đến phòng tập thể dục thì chúng tôi có thể giúp bạn: Đó là những loại trái cây và tươi và khô như chuối, cam, dưa, nho và mận.

Trong suốt thời gian 1 giờ luyện tập với cường độ cao, bạn sẽ bị mất từ 200-600 mg kali, đây là khoáng chất rất cần thiết để hỗ trợ cho chức năng của tế bào và tim mạch, giúp điều hòa huyết áp, phòng mất xương và sỏi thận, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong quá trình co cơ.

Bạn nên lựa chọn chuối bởi chúng là nguồn cung cấp kali dồi dào nhất (400-600 mg kali/quả). Những thực phẩm khác cũng rất giàu kali bao gồm khoai tây và khoai lang, đậu Hà Lan, quả bơ và các loại rau màu xanh lá như rau chân vịt và cải xoăn.


Canxi

Sữa dường như không phải là người bạn đồng hành với bạn trong mọi tình huống, nhưng theo các nhà nhà khoa học thuộc Đại học McMaster (Anh) những loại đồ uống giàu canxi có tác dụng bổ sung nước cho cơ thể sau luyện tập tốt hơn cả đồ uống thể thao và nước thông thường. Tại sao ư?

Sữa là loại đồ uống hỗn hợp bao gồm cả carbohydrate, canxi, natri, kali cũng với nguồn protein chất lượng cao sẽ giúp các bó cơ hồi phục nhanh hơn. Hãy tăng cường những thực phẩm giàu canxi vào chế độ ăn hàng ngày như sữa (sữa bò hay sữa đậu nành) và ngũ cốc và sữa chua…


Magie

Giống như canxi, magie tham gia hỗ trợ cho chức năng co cơ, chức năng thần kinh, kích hoạt các enzyme và sự phát triển của xương. Để bổ sung đủ cho cơ thể loại khoáng chất này sau luyện tập, chuyên gia Clark khuyên bạn nên tăng cường các thực phẩm như rau quả có màu xanh lá, ngũ cốc nguyên cám, các loại quả hạch, bơ đậu phộng, đậu khô và đậu lăng…

Ngoài ra, magie còn giúp cơ thể chống lại mệt mỏi. Khi nồng độ magie trong cơ thể giảm quá thấp, cơ thể sẽ cần nhiều oxy và năng lượng hơn – trong các hoạt động thể chất, và do đó khiến bạn nhanh mệt hơn, theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Cục nghiên cứu nông nghiệp Hoa Kỳ.

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2016

5 lỗi sai cơ bản trong ăn uống vô tình gây bệnh ung thư cho con

[Me va be]Tiến sĩ Từ Ngữ (Tổng thư ký Hội dinh duong Việt Nam) khẳng định thói quen ăn uống không hẳn đã khiến trẻ bị ung thư nhưng đúng là có những lỗi sai trong ăn uống khiến trẻ bị bệnh.




Theo TS Từ Ngữ: “Đừng bao giờ có suy nghĩ vì một trường hợp bị ung thư dạ dày được phát hiện mà khái quát cho tất cả trẻ em và đổ lỗi cho những thực phẩm như bánh kẹo ngọt, bim bim, kem gây bệnh. Nếu thực sự muốn có bằng chứng rõ ràng thì chúng ta cần làm y học thực nghiệm cho tất cả những trẻ em trong độ tuổi đó. Sau đó mới kết luận lại xem bao nhiêu phần trăm trẻ ăn thường xuyên những thực phẩm trên bị ung thư thì lúc đó mới có thể nói như trên được”.


"Ung thư còn phụ thuộc rất nhiều vào những thứ khác như môi trường sống bị ô nhiễm, trẻ chẳng may uống nhầm một hóa chất tích tụ độc tố gây ung thư nào đó…”, chuyên gia dinh dưỡng cho biết thêm.

Thực tế, đồ ăn nhanh và chế biến sẵn như bim bim, khoai tây chiên, gà rán, hamburger…luôn là những món đồ yêu thích của hầu hết các em nhỏ. Tuy nhiên, bố mẹ cần biết rằng những loại thực phẩm này cực kì không tốt cho trí tuệ cũng như sức khỏe của trẻ.

Dưới đây là 5 lỗi sai cơ bản của cha mẹ trong ăn uống vô tình gây bệnh cho con được chuyên gia này đưa ra:

Hiểu biết sai về thực phẩm và cách chế biến

TS Từ Ngữ cho biết, nhóm phụ huynh này thường có suy nghĩ sai về giá trị dinh duong, kỹ thuật nấu nướng, nhu cầu của trẻ, sự phát triển của trẻ cần những gì. Đây là nhóm hoàn toàn thiếu hiểu biết. Ví dụ như người ta nói ăn nhiều thịt là tốt, uống nhiều sữa là tốt, trong bim bim có nhiều chất có lợi, nước giải khát có gas giúp tăng lực… Quá nhiều cách nói về những thực phẩm này làm cho mẹ hoặc bất cứ ai không hiểu biết sẽ bị nhầm lẫn.

“Do đó, trong trường hợp này, phụ huynh cần có các nhà dinh dưỡng giải thích một cách chuẩn xác. Ở đây, khi giải thích, chuyên gia dinh dưỡng cần chú ý: Thực phẩm chế biến không tốt có nguyên nhân chủ yếu là do lượng chất phụ gia, phẩm màu ổn định vị, độ keo… còn bản thân thực phẩm chế biến không phải là không tốt”, TS Từ Ngữ khẳng định.

Chiều theo sở thích ăn uống của con

TS Từ Ngữ cho hay: “Nhiều cha mẹ thương con, biết con ăn nhiều đồ ngọt là không tốt nhưng vì con rất thích nên cứ cho con ăn nhiều đồ ngọt như đường, bánh kẹo. Khi ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt, trẻ sẽ không ăn cơm được nữa dẫn đến con hoặc bị béo phì hoặc bị suy dinh dưỡng”.
Cơ quan An toàn thực châu Âu phát hiện một hóa chất có tên là acrylamide gây ung thư được tìm thấy trong bim bim, cà phê, khoai tây.

Chạy theo đám đông, quảng cáo hoặc học theo các mẹ khác

Chuyên gia lấy một ví dụ đơn giản: Khi thấy con mình nhỏ bé thì lo sốt vó, tẩm bổ bằng mọi cách cho con béo lên dù đang hoàn toàn khỏe mạnh chỉ vì cả lớp con đứa nào cũng béo. Đó là suy nghĩ hoàn toàn sai lầm.

Áp dụng một cách máy móc các kiến thức nuôi con tân tiến ở các nước khác

“Nhiều mẹ học tiếng Anh giỏi, đọc sách thấy ở những nước ngoài người ta nuôi con theo kiểu này kiểu kia rồi cũng về áp dụng để nuôi con. Tuy nhiên, các mẹ lại không biết rằng áp dụng kiểu như vậy rất có thể không theo nhu cầu của đứa trẻ sống tại Việt Nam. Hiện tượng này đang rất phổ biến ở Việt Nam”, TS Từ Ngữ nói.

Nhiều mẹ áp dụng máy móc kiểu nuôi con ở những nước tiên tiến mà không biết có thể không phù hợp với thể trạng trẻ ở Việt Nam.

Quan niệm sai về cách nuôi con

Nhiều người có quan niệm nuôi con kiểu cứ nuôi khắc lớn, không cần tới khoa học, nuôi theo kinh nghiệm của ông bà… đòi hỏi phải kiêng khem, không được ăn cái này cái kia, trẻ nhỏ bị bệnh không được bú mẹ… “Rất nhiều lời khuyên từ ông bà được áp dụng cho trẻ nhỏ về cách ăn uống. Nhưng đây cũng có thể là nguyên nhân khiến trẻ bị bệnh”, TS Từ Ngữ khẳng định.

“Cái chuẩn nhất của một đứa trẻ được ăn uống đúng cách chính là khỏe mạnh, không mắc bệnh tật gì, chỉ số trí tuệ cao. Và để có thể thường xuyên theo dõi được sự phát triển của trẻ cũng như thước đo cha mẹ đã cho con ăn uống đúng cách hay chưa, phụ huynh nên đưa con đi khám, cân đo, tư vấn dinh dưỡng định kỳ tại những cơ sở có uy tín”, TS Từ Ngữ khẳng định.

Thêm nữa, mẹ cần dành nhiều thời gian để chăm sóc con hơn, đừng phó thác con cho người giúp việc hay ông bà. Trước khi làm mẹ, chị em cũng nên đi học các lớp học làm mẹ một cách nghiêm chỉnh để củng cố kiến thức nuôi dạy con...

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

Yến mạch: Ngũ cốc tốt giúp hạ cholesterol

Yến mạch là một loại ngũ cốc có giá trị dinh duong cao, giàu đạm, chất xơ hòa tan. Yến mạch giúp làm đẹp da, tốt cho trí não của trẻ, bảo vệ tim mạch, chống dị ứng, chống suy nhược thần kinh, củng cố hệ miễn dịch cơ thể và làm hạ cholesterol máu.



Trước đây, yến mạch là một loại thực phẩm khá xa lạ đối với người dân Việt Nam vì nó không phải sản phẩm nông nghiệp chính, yến mạch chủ yếu được trồng nhiều ở các vùng khí hậu ôn đới như Mỹ, Canada, Ba Lan, Nga, Đức ,Úc…

Tuy nhiên, trong những năm gần đây ở Việt Nam với đời sống kinh tế đi lên và giao lưu hội nhập mở rộng với các nước có yến mạch là sản phẩm chủ đạo. Yến mạch đã có mặt trong nhiều bữa ăn điểm tâm tại các buổi buffet sáng, các buổi ăn chính chiêu đãi và giao lưu ẩm thực, xuất hiện thường xuyên trong các siêu thị và các cửa hàng mua bán lẽ. Nhiều người đã dành sự quan tâm đúng mức cho loại ngũ cốc nguyên hạt này trong bữa ăn và tìm hiểu tác dụng bảo vệ sức khỏe của chúng.

Yến mạch là một loại ngũ cốc có giá trị dinh duong cao, giàu đạm, chất xơ hòa tan. Một số tác dụng có lợi sức khỏe yến mạch như: làm đẹp da, dùng làm thức ăn kiêng, tốt cho trí não của trẻ, bảo vệ tim mạch, chống dị ứng, chống suy nhược thần kinh, củng cố hệ miễn dịch cơ thể... Ngoài ra, yến mạch có một tác dụng quan trọng đối với suc khoe chúng ta là ngũ cốc nguyên hạt tốt nhất làm hạ cholesterol máu.




Bạn muốn giảm mức cholesterol trong máu? Hãy thử một bát bột yến mạch cho bữa ăn sáng. Một nghiên cứu mới cho biết thêm bằng chứng trước đây rằng trong số các loại ngũ cốc, yến mạch là sự lựa chọn hiệu quả nhất khi nói đến việc làm giảm cholesterol.

Các phát hiện được tổng kết từ 24 nghiên cứu liên quan đến những thành phần của lipid máu (cholesterol và triglyceride) trong những người ăn chế độ ăn gồm các loại thực phẩm ngũ cốc nguyên hạt (nhóm nghiên cứu) so với những người dùng chế độ ăn không có ngũ cốc nguyên hạt (nhóm chứng). So với chế độ ăn không có ngũ cốc nguyên hạt, chế độ ăn ngũ cốc nguyên hạt hạ thấp nồng độ cholesterol trung bình 4,6 điểm. Chế độ ăn uống gồm yến mạch được chứng minh là có điểm cao hơn, giảm mức cholesterol 6,5 điểm trên mức trung bình. Một tác dụng đặc biệt nữa: chế độ ăn ngũ cốc nguyên hạt không làm giảm HDL-cholesterol, là một thành phần mỡ có lợi chống lại xơ vữa động mạch. Báo cáo đã đăng tải (9/2015) trên Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Hoa Kỳ (The American Journal of Clinical Nutrition).

Để ăn nhiều yến mạch ngũ cốc nguyên hạt, hãy thử các loại yến mạch Ailen cắt lát, đó là yến mạch cắt nhỏ thành từng miếng. Hoặc lựa chọn cho yến mạch phổ biến ở thị trường, được hấp và cuộn lại thành vảy mỏng. Nếu bạn không thích dùng ngũ cốc đang nóng, hãy thử dùng một cốc ướp lạnh làm từ lúa mạch. Bạn cũng có thể xay yến mạch bằng máy xay và thêm chúng vào thực phẩm nướng, súp, và thịt hầm.

Bạn hãy thử quan tâm và bắt đầu dùng yến mạch khi có điều kiện, bổ sung vào thực đơn bảo vệ sức khỏe của mình theo các chỉ dẫn sử dụng yến mạch đang phổ biến hiện nay.

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

Làm Thế Nào Để Giữ Chất Dinh Dưỡng Trong Thức Ăn Của Trẻ?

Trong khi chế biến thức ăn cho trẻ, vô tình bạn làm mất đi rất nhiều vitamin vì quá trình chế biến chưa được khoa học, một vài gợi ý sau đây giúp bạn luôn giữ được chất dinh duong.


Đối với các loại rau củ

Để giữ được dinh duong cho bữa ăn của trẻ, bạn cần lựa chọn được những thực phẩm tươi ngon nhất. Với các loại rau, củ, bạn nên mua vào buổi sáng, đặc biệt khi vừa được người bán thu hái rất lý tưởng vì lúc đó, rau củ là tươi ngon và nhiều dinh dưỡng nhất.

Khi mua về, chưa chế biến ngay thì bạn cần bảo quản rau củ cho bé ở tủ lạnh để giảm thiểu thất thoát vitamin C. Với những loại thực phẩm như dưa chuột, bí ngô, khoai tây hay cà chua… sẽ mất đi các giá trị dinh dưỡng khi được giữ lạnh và chịu đựng tủ lạnh rất kém, do đó, tốt hơn cả là nấu chín các loại rau, củ, quả này trước khi để vào tủ lạnh (khoai tây nghiền, sốt cà chua...).

Khi sơ chế, bạn nên rửa rau củ dưới vòi nước chảy, không nên ngâm ngập rau quả trong chậu nước, như vậy, bạn sẽ tránh được việc các vitamin B, C và một số khoáng chất tan biến vào trong nước.

Khi chế biến, bạn nên chọn cách hấp rau củ hơn là cách luộc vì vitamin ít bị mất theo cách này. Một số nghiên cứu cho thấy, chế biến thức ăn dặm bằng lò vi sóng giữ lại nhiều dinh dưỡng hơn hấp dù phần lớn cha mẹ không thích dùng lò vi sóng để chế biến.
Để giữ vitamin C, cần dùng rau quả, rửa rồi mới gọt - thái, và thái rồi cần nấu ngay, nấu nhanh và sau đó ăn ngay. Cần nấu rau quả trong thời gian ngắn nhất có thể, khi rau chín vừa là đủ. Lâu quá sẽ khiến vitamin trong rau củ bay hết.



Một số cách đun nấu thức ăn dặm

Hấp: Đây được coi là một trong những cách giữ được nhiều chất dinh dưỡng của thức ăn dặm. Nước ở nồi hấp sau đó có thể được dùng để cho vào máy xay trong quá trình bạn xay nhuyễn rau (củ, quả) hay thịt, cá cho con. Nhiệt độ càng cao và thức ăn càng được ngâm lâu trong nước thì càng dễ bị mất chất.

Luộc và hầm: Cách này không khoa học lắm vì nó khiến thực phẩm bị mất nhiều chất dinh dưỡng. Nước sẽ hòa tan vitamin (đặc biệt là vitamin B, vitamin C) và một số khoáng chất. Để hạn chế mất chất, bạn nên giới hạn lượng nước và thời gian khi luộc (hầm). Nên dùng nước trong nồi luộc (hầm) trong quá trình xay nhuyễn thức ăn cho bé.

Nướng và rang: Đây là hai phương pháp dùng nhiệt độ để làm khô và chín thực phẩm. Với lò nướng chuyên dụng, thịt (cá, hải sản) hay củ, quả có thể được làm chín, giúp bé dễ tiêu hóa và hạn chế tối đa sự mất chất.

Dùng nồi áp suất: Đây cũng là cách ít bị mất dinh dưỡng nhất nếu chỉ dùng ít nước.

Rán: Hạn chế tối đa việc rán thức ăn dành cho bé. Bởi vì, rán thực phẩm ở nhiệt độ cao có thể sinh ra những độc tố, không có lợi cho sức khỏe. Tốt nhất, bạn chỉ cần rán sơ qua đồ ăn nào đó với dầu olive rồi chuyển qua dùng phương pháp khác.

Nướng bằng than (như nướng chả): Thực phẩm sẽ được chín bằng than và nhiệt độ, có thể gây ra chất sinh ung thư. Các bé không nên ăn thức ăn được nướng than và ngay cả người lớn cũng cần được hạn chế.


Một số lưu ý

Thực phẩm trước khi cho vào tủ lạnh nên được bọc kín để không bị trộn lẫn với các hương vị của thực phẩm khác.

Rau quả không nên nấu quá chín vì khi đó, các chất dinh dưỡng nhận được từ rau sẽ ít hơn. Rau quả tươi chỉ cần nấu nhanh và không cần thiết cho nhiều gia vị, nêm vừa ăn là tốt.

Nên nhớ các loại rau xanh lá không nên nấu chung với chanh hoặc me (có chứa axit) vì sẽ làm giảm sự hấp thụ dinh dưỡng từ rau.

Việc sử dụng dụng cụ nấu ăn sai cũng có thể gây nguy hiểm. Không nên sử dụng xoong nồi, muỗng, đũa được sơn phết hay trang trí để nấu ăn... Một số dụng cụ có thể được làm bằng những vật liệu chứa các hóa chất, độc tố, nên có thể dẫn đến rối loạn tiêu hóa nặng.

Sử dụng nồi nhôm để nấu ăn cũng có thể gây ra mức độ nhôm cao trong các mô não, và rất khó để loại bỏ nhôm ra khỏi cơ thể. Những người bị bệnh Alzheimer thường có lượng nhôm cao trong mô não. Nồi bằng thủy tinh chịu nhiệt tốt hoặc thép không gỉ là dụng cụ nấu ăn an toàn nhất.

4 Món Cháo Trị Cảm Thay Kháng Sinh

[Suc khoe y te]Thấy bé yêu bị cảm, người mệt mỏi và hay quấy khóc, mẹ nào cũng muốn cho con mình chóng khỏi bệnh. Nhưng cho bé uống nhiều thuốc liệu có phải là cách hay?


Dưới đây là một vài món cháo vừa có tác dụng trị được cảm lạnh, lại vừa bổ sung dinh duong cho bé yêu.

Cháo gà

Cháo gà nóng là một trong những món ăn “cổ điển” từ xưa tới nay rất tốt cho các bệnh cảm lạnh và viêm họng không chỉ đối với người lớn mà còn có công dụng với cả trẻ nhỏ. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, cháo gà có đặc tính kháng viêm, giảm sự di chuyển của bạch cầu trung tính – các thế bào miễn dịch kích thích sự phát triển của chất nhầy không có lợi.



Vì vậy nếu bé yêu của bạn đang bị ốm trong tiết trời lạnh giá, chẳng có lí do gì để bạn không nấu cho bé một bát cháo gà thật nóng, sức khỏe và bệnh viêm họng của bé sẽ được cải thiện đáng kể đấy.

Cháo lá tía tô

Tía tô là loại cây rau gia vị rất thông dụng ở nước ta, lá dùng để nấu canh hoặc ăn sống. Ngoài việc dùng để ăn, lá và hạt tía tô đều là những vị thuốc phổ biến trong Đông y. Lá tía tô vị cay, tính ấm có tác dụng giúp bé yêu của bạn hạ khí, tiêu đờm, chữa ho, sốt, thở gấp, ngực khó chịu. 

Trước tiên bạn hãy rửa thật sạch lá tía tô, cho một lượng nước vừa phải vào sắc. Đến khi nước cạn còn một nửa thì bỏ bã, lấy nước đó cho gạo đã vo vào, thêm nước và nấu thành cháo đặc.


Ngày cho bé ăn 1 bát, chia ra làm 2 lần sáng và tối. Tốt nhất là nên cho bé ăn lúc cháo còn nóng sẽ toát mồ hôi nhanh chóng và nhớ tránh gió, dùng khăn lau khô mồ hôi.

Cháo táo đỏ, bí ngô

Đây là một loại cháo khá dễ chế biến và lại có tác dụng rất tốt, có thể trị cảm cho bé yêu của bạn. 

Bạn lấy một quả bí ngô, táo đỏ khoảng 500g, đường đỏ 200g. Sau đó rửa sạch bí ngô, táo đỏ và bỏ vào nồi nấu cùng với đường đỏ, đổ nước vừa đủ để nấu thành cháo. Món cháo này dễ ăn, có tác dụng giúp bé yêu thanh phế, trừ ho hen, chống dị ứng và có thể trị ho lâu ngày ở trẻ. Với món cháo này mỗi ngày bạn cho bé ăn 1 bát nhé.


Cháo cà chua với sữa

Nghe có vẻ lạ tai, nhưng mách nhỏ các mẹ rằng cháo cà chua là một món ăn tuyệt vời có thể giúp bé không bị cảm cúm nữa. Trong cà chua, hàm lượng acid rất cao giúp bé xua tan cảm giác đau rát cổ họng, thêm sữa sẽ làm món ăn có mùi vị hấp dẫn cũng như bổ sung dưỡng chất cho bé. Hay đơn giản hơn hãy làm thành một loại sinh tố giữa hai loại thực phẩm cà chua và sữa. Bé sẽ uống ngon lành.

Bên cạnh 4 món cháo trên, các mẹ cần chú ý bổ sung các loại thực phẩm sau để giúp bé mau khỏi bệnh:

Các nhóm thực phẩm có thể phòng và chữa cảm

Thực phẩm có tính kiềm

Môi trường kiềm tính của cơ thể không có lợi cho sự sinh sôi của mầm bệnh, nếu có thể duy trì được môi trường kiềm tính thì độc tố cũng không thể đọng lại trong cơ thể, cho nên cần ăn nhiều thực phẩm kiềm tính. Thay đổi môi trường trong cơ thể chính là phương pháp tốt nhất để nâng cao khả năng miễn dịch.

Các thực phẩm tính kiềm: Táo, nho, cà chua, cà rốt, hải sản….

Thực phẩm có chứa vitamin A

Vitamin A làm ổn định tế bào da trên cơ thể, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể. Khi thiếu vitamin A, khả năng chống tế bào gây bệnh cũng giảm thấp, dễ lây nhiễm đường hô hấp.

Ăn nhiều các thực phẩm: sữa, trứng gà, cà rốt, rau, dầu cá…

Thực phẩm có chứa vitamin C

Vitamin C có tác dụng chống cảm nhiễm và rèn luyện khí lực. Vitamin C có tác dụng kháng thể, nâng cao khả năng miễn dịch, đẩy chất độc hại ra khỏi tế bào bạch cầu, khôi phục tế bào bị phá vỡ. Khi cảm cúm hay sốt, nồng độ vitamin C của tế bào bạch cầu có thể giảm thấp, cho nên cần chú ý bổ sung các thực phẩm chứa vitamin C.

Ăn nhiều các thực phẩm: Dâu tây, lê, cam quýt, ớt xanh, rau cần tây…

Thực phẩm có chứa kẽm

Kẽm có thể khống chế sự sinh sôi của mầm bệnh gây cảm lạnh, đồng thời tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.

Một vài lưu ý khi chăm sóc trẻ bị nhiễm cúm

- Bạn nên giữ ấm cho bé, nhất là những bộ phận dễ bị nhiễm lạnh trên cơ thể bé như cổ họng, chân, tay…

- Đặt bé nằm trong phòng thoáng khí, tránh gió lùa trực tiếp.

- Bạn nên thay quần áo ngay sau khi bé bị sốt cao, đổ mồ hôi nhiều. Đồng thời bạn nên lau cơ thể bé bằng nước ấm để hạ sốt hàng ngày: dùng nước đun sôi để nguội pha ấm và lau toàn bộ cơ thể bé, bạn nên chú ý đến vùng cổ, hai bên nách và vùng da bẹn của bé. Bạn tuyệt đối không được dùng nước đá chườm cho bé vì nhiệt độ thấp sẽ khiến các mạch máu của bé bị co lại.

- Nếu không vệ sinh, bé có thể bị nhiễm trùng da, rôm sảy, ngứa ngáy, khó chịu và khiến tình trạng cảm cúm càng nghiêm trọng hơn.

- Bạn không nên ủ ấm quá cho bé: việc ủ ấm chỉ khiến cho thân nhiệt bé bị tăng cao, gây nên tình trạng sốt cao co giật ở bé.

- Bạn có thể cho bé dùng thuốc hạ sốt nhưng phải theo chỉ dẫn cụ thể của bác sĩ.

- Bạn nên tăng cường các cữ bú trong ngày hoặc cho bé dùng thêm nước đun sôi để nguội để bù vào lượng nước đã mất. Bạn cũng nên ăn uống đủ dinh dưỡng để tăng chất lượng sữa cho bé.

- Với bé ở độ tuổi ăn dặm, bạn có thể cho bé dùng nước hoa quả, nước cháo, nước canh… Cho bé ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày với những loại thức ăn dạng lỏng, dễ tiêu hóa. Các loại rau, củ, quả chứa nhiều vitamin C giúp bé tăng cường sức đề kháng và mau khỏi cúm.

- Nếu bé bị chảy nước mũi, bạn nên dùng khăn xô (hoặc khăn vải mềm) lau cho bé. Nếu bé bị tắc mũi, bạn có thể dùng nước muối sinh lý hoặc thuốc nhỏ mũi (loại dành riêng cho bé) để nhỏ và làm thông mũi bé.

- Nếu bé bị ho, bạn cho bé uống các loại thuốc ho dạng siro nhưng phải tham khảo ý kiến bác sĩ. Việc bạn tự ý mua thuốc trị ho có thể làm tăng thêm tình trạng đau họng ở bé.

Phòng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A

[Suc khoe y te]Bệnh khô mắt thường xảy ra khi cơ thể trẻ bị thiếu hụt vitamin A do nhiều nguyên nhân khác nhau.



Bệnh khô mắt thường xảy ra khi cơ thể trẻ bị thiếu hụt vitamin A do nhiều nguyên nhân khác nhau. Lúc đầu bệnh lý có biểu hiện kết mạc mắt mất vẻ bóng bình thường, trở nên khô, có khi gợn các nếp nhăn hoặc dày lên từng đám. Nếu để muộn, không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh sẽ lan tới giác mạc làm giác mạc có nguy cơ bị loét, nhũn mà hậu quả có thể dẫn đến mù lòa.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng hàng trăm ngàn trẻ em bị mù lòa do bệnh khô mắt; ngoài ra cũng có tới hàng triệu trẻ em bị thiếu vitamin A thể nhẹ hoặc thể vừa làm cho trẻ dễ bị cảm nhiễm với các bệnh nhiễm trùng như tiêu chảy và viêm đường hô hấp. Ở nước ta tình trạng thiếu vitamin A và bệnh khô mắt cũng đang là một vấn đề được xem như một bệnh thiếu dinh dưỡng hay gặp ở trẻ em; đặc biệt đối với các trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, sau khi mắc bệnh tiêu chảy, bệnh sởi... Lúc đầu bệnh lý có biểu hiện kết mạc mắt mất vẻ bóng bình thường, trở nên khô, có khi gợn các nếp nhăn hoặc dày lên từng đám. Nếu để muộn, không được phát hiện và điều trị kịp thời bệnh sẽ lan tới giác mạc làm giác mạc có nguy cơ bị loét, nhũn mà hậu quả có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân và triệu chứng phát hiện

Về nguyên nhân: bệnh khô mắt thường xảy ra khi chế độ ăn thiếu hoặc không có vitamin A. Thực tế vitamin A còn được gọi là retinol, đây là một thành phần dinh duong cần thiết đối với cơ thể. Retinol chỉ có trong các loại thức ăn động vật nhưng trong các loại thức ăn thực vật lại giàu chất tiền vitamin A là các sắc tố dạng caroten, khi vào cơ thể chúng sẽ được chuyển hóa thành vitamin A. Trong các sắc tố đó, chất bêta-caroten có hoạt tính sinh học cao nhất. Các loại rau có màu xanh đậm, các loại củ, quả có màu da cam thường có chứa nhiều chất bêta-caroten. Vitamin A được tích lũy trong mỡ của gan, thường gan của các loài cá biển như cá thu có rất nhiều retinol; sữa và trứng cũng là nguồn thực phẩm có retinol khá phong phú; trong thịt và mỡ của những loại gia súc thì hàm lượng vitamin A không đáng kể. Theo quy định, một đơn vị quốc tế (UI) vitamin A thường có khoảng 0,3mcg retinol.



Về triệu chứng: một chế độ ăn nghèo vitamin A sẽ dẫn tới việc dự trữ vitamin A ở gan thấp và hàm lượng vitamin A trong máu giảm. Tình trạng thiếu vitamin A được ghi nhận khi hàm lượng vitamin A trong huyết thanh dưới 10mcg/100ml. Ở trẻ em, bệnh lý bệnh khô mắt thường tiến triển nhanh vì vitamin A ít dự trữ ở gan và cơ thể thường có nhu cầu cao. Thực tế mặc dù tình trạng thiếu vitamin A có biểu hiện bệnh lý toàn thân nhưng các biểu hiện ở mắt vẫn là tiêu biểu và đặc hiệu hơn cả. Theo WHO, các biểu hiện lâm sàng của bệnh khô mắt bao gồm: quáng gà, khô kết mạc, vệt bitô, khô giác mạc, loét hoặc nhuyễn giác mạc dưới 1/3 diện tích bề mặt giác mạc, loét hoặc nhuyễn giác mạc trên 1/3 diện tích bề mặt giác mạc, sẹo giác mạc sau khô mắt, tổn thương đáy mắt do khô mắt.

Quáng gà là biểu hiện sớm của bệnh khô mắt do tình trạng giảm cung cấp vitamin A đến những tế bào hình que của võng mạc mắt gây giảm thị lực trong điều kiện thiếu ánh sáng.
Sữa mẹ là nguồn vitamin A tốt nhất đối với trẻ nhỏ

Khô kết mạc biểu hiện dấu hiệu kết mạc không trong suốt, bóng ướt như kết mạc bình thường, có khi kết mạc dày lên và có những nếp nhăn; trẻ luôn bị chớp mắt, sợ ánh sáng. Kết mạc có thể đổi màu xám nhạt, vàng nhạt hoặc nâu sẫm.

Vệt bitô được xem là triệu chứng đặc hiệu của tổn thương kết mạc do thiếu vitamin A. Đây là các đám tế bào biểu mô kết mạc bị khô, sừng hóa dày lên thành từng đám và bong vảy; thường là những vệt có màu trắng xám, hình tam giác, đáy tam giác quay về phía rìa giác mạc hoặc có thể có hình trái xoan.

Loét hoặc nhuyễn giác mạc dưới 1/3 diện tích bề mặt giác mạc là tổn thương không thể phục hồi được của giác mạc và nhất định sẽ để lại khuyết tật nào đó ở giác mạc gây giảm thị lực. Loét giác mạc là tình trạng mất tổ chức của một phần hay tất cả các lớp của giác mạc, vì vậy khi nhuộm fluorescein giác mạc bắt màu xanh. Khi khô loét giác mạc còn chưa sâu, phải điều trị tích cực và kịp thời thì vết loét sẽ khỏi nhanh, để lại sẹo nhỏ và mỏng, thị lực sẽ bị gảm ít. Nếu vết loét sâu tiến triển có thể gây thủng giác mạc, lòi mống mắt, để lại sẹo dày, dính mống mắt và thị lực bị giảm nhiều.

Sẹo giác mạc sau khô mắt là di chứng của loét giác mạc. Có thể chỉ là những sẹo nhỏ, mỏng, phải quan sát thật kỹ mới phát hiện; cũng có thể là những sẹo to, dày, có nhiều mạch máu mới, thậm chí là những sẹo lồi, sẹo dúm, teo nhãn cầu và gây mù lòa vĩnh viễn cho trẻ. Sẹo giác mạc có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, vì vậy khi chẩn đoán cần dựa vào các yếu tố như: trẻ có tiền sử suy dinh dưỡng đã đi điều trị ở bệnh viện và có chẩn đoán khô mắt, ngay trước khi và trong khi xảy ra đau mắt; có tiền sử tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa kéo dài, mắc bệnh sởi, viêm phế quản dai dẳng...; trẻ không có tiền sử sang chấn ở mắt, sẹo giác mạc không có ngay sau khi sinh ra.

Tổn thương đáy mắt do khô mắt là một tổn thương của võng mạc do thiếu vitamin A mạn tính, hiếm gặp ở trẻ nhỏ mà thường gặp ở trẻ lớn ở lứa tuổi đi học, có bệnh lý quáng gà. Chẩn đoán tổn thương đáy mắt do khô mắt được xác định chắc chắn khi có kèm theo triệu chứng khô kết mạc, vệt bitô hay khô giác mạc.

Chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh

Chẩn đoán: việc chẩn đoán các tổn thương giác mạc do thiếu vitamin A cần phân biệt với các tổn thương do những nguyên nhân khác như bị sang chấn, nhiễm trùng, mắc bệnh sởi. Cần lưu ý khám mắt cho các trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, mắc bệnh sởi và viêm nhiễm đường hô hấp vì có thể dễ bị bỏ qua các trường hợp khô mắt hoạt tính. Theo WHO, để xác định bệnh khô mắt do thiếu vitamin A có phải là một vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng hay không thường căn cứ vào các chỉ số như: quáng gà trên 1% số trẻ; vệt bitô trên 0,5% số trẻ; khô giác mạc, loét giác mạc, nhuyễn giác mạc trên 0,01% số trẻ; sẹo giác mạc do khô mắt trên 0,05% số trẻ; hàm lượng vitamin A trong huyết thanh dưới 10mcg/100ml trên 5% số trẻ. Nếu tỉ lệ mắc bệnh vượt quá 1 trong 4 chỉ số lâm sàng nói trên thì có thể kết luận bệnh khô mắt là một vấn đề sức khỏe có ảnh hưởng đến cộng đồng; còn chỉ số hóa sinh về hàm lượng vitamin A có giá trị phụ thêm để khẳng định.

Điều trị: phải điều trị cho tất cả các trường hợp mắc bệnh khô mắt hoạt tính từ quáng gà, khô kết mạc, có vệt bitô đến khô giác mạc, loét giác mạc, nhuyễn giác mạc theo khuyến cáo của WHO kịp thời ngay sau khi phát hiện bệnh bằng cách uống vitamin A với liều lượng 200 ngàn đơn vị quốc tế UI. Ngày hôm sau tiếp tục uống 200 ngàn đơn vị quốc tế UI. Từ 1 đến 4 tuần sau đó uống thêm 200 đơn vị quốc tế UI. Lưu ý đối với trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi dùng nửa liều, tương ứng với 100 ngàn đơn vị quốc tế UI. Thực tế cần xem các trường hợp khô giác mạc, loét giác mạc, nhuyễn giác mạc là bệnh cấp cứu nhãn khoa, đòi hỏi yêu cầu trẻ phải được điều trị và chăm sóc tích cực ở bệnh viện.

Phòng bệnh: hiện nay chương trình phòng chống thiếu vitamin A và bệnh khô mắt đã khuyến cáo cộng đồng muốn phòng bệnh tốt phải thực hiện chế độ dinh duong hợp lý, tăng cường vitamin A trong một số loại thức ăn và uống viên nang vitamin A liều cao. Thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý trước hết là phải quan tâm việc nuôi con bằng sữa mẹ vì sữa mẹ là nguồn vitamin A tốt nhất đối với trẻ nhỏ; vitamin A chỉ có trong các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật, sữa, gan, lòng đỏ trứng; bêta-caroten có nhiều trong các loại rau có màu xanh đậm và các loại củ, quả có màu da cam; vì vậy chế độ ăn bổ sung của trẻ từ tháng thứ tư trở đi ngoài sữa mẹ cần có thức ăn từ các loại thực phẩm này; ngoài ra cũng phải cần có đủ chất đạm và chất béo để tăng cường sự hấp thụ và sử dụng vitamin A. Tăng cường vitamin A trong một số thức ăn đã được nhiều quốc gia thực hiện có kết quả bằng cách bổ sung vitamin A vào một số thực phẩm như: bơ thực vật margarin, bột sữa gầy, đường, bột ngọt; các thức ăn bổ sung cho trẻ như sữa hộp, sữa bột, bột dinh dưỡng cũng cần được tăng cường vitamin A đáp ứng với nhu cầu cần thiết của trẻ. Uống viên nang vitamin A liều cao phải được thực hiện ở những nơi đã phát hiện tình trạng thiếu vitamin A; song hành với các biện pháp dài hạn, việc cho uống viên nang vitamin A liều cao là biện pháp trước mắt và cần thiết cho đối tượng trẻ em dưới 3 tuổi với liều 200 ngàn đơn vị quốc tế UI, uống một năm 2 lần; đối với trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi dùng liều 100 ngàn đơn vị quốc tế UI; trong trường hợp số lượng vitamin A không đủ thì nên dành ưu tiên cho những vùng có tỉ lệ mắc bệnh khô mắt cao, các nhóm trẻ dễ bị đe dọa như trẻ suy dinh dưỡng nặng và rất nặng, mắc bệnh sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp dưới; lưu ý người mẹ đang cho con bú ngay sau khi sinh hoặc trong tháng đầu tiên sau sinh nên uống 1 viên nang vitamin A liều 200 ngàn đơn vị quốc tế UI để tăng cường hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ.
TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH